TIMGIATOT.VN

Ứng dụng tìm kiếm và So Sánh Giá

Kiến thức

Điếc đột ngột
Điếc đột ngột
Điếc đột ngột có thể xảy ra đột ngột hoặc xảy ra trong vòng vài giờ. Hiện vẫn chưa rõ chính xác nguyên nhân gì gây ra mất thính lực đột ngột và các chuyên gia Y tế trên thế giới đang tìm cách để hiểu rõ hơn về hiện tượng này. Ảnh hưởng của điếc đột ngột từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào các yếu tố sức khỏe khác và có khả năng trở thành điếc vĩnh viễn. Mất thính lực đột ngột cũng có thể xảy ra cùng với chứng ù tai. Điếc đột ngột là tình trạng gì? Điếc đột ngột là một dạng điếc thần kinh giác quan, xảy ra đột ngột, nhanh từ vài giờ đến vài ngày với thính lực đồ điếc tiếp nhận từ 30 dB (đề xi ben), ít nhất 3 tần số liên tục. Sự vận chuyển máu đến nuôi ốc tai không được thuận lợi là nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh. Tình trạng thường xuất hiện ở một tai bởi vấn đề về các cơ quan cảm giác của tai trong, phổ biến ở người trưởng thành và người già. Tuy nhiên, hiện nay trẻ nhỏ cũng có thể gặp phải, và thường khó phát hiện hơn. Điếc đột ngột   Nguyên nhân điếc đột ngột Có rất nhiều các rối loạn ảnh hưởng đến tai có thể gây ra điếc đột ngột nhưng chỉ có 10% những người được chẩn đoán mắc điếc đột ngột có nguyên nhân có thể xác định được, như: Nhiễm trùng. Chấn thương đầu. Bệnh tự miễn. Tiếp xúc với một số loại thuốc điều trị ung thư hoặc nhiễm trùng nặng. Vấn đề lưu thông máu. Rối loạn thần kinh, chẳng hạn như bệnh đa xơ cứng. Rối loạn tai trong, chẳng hạn như bệnh Ménière. Chẩn đoán điếc đột ngột Người bệnh có triệu chứng điếc đột ngột, đầu tiên bác sĩ sẽ loại trừ mất thính lực do tắc nghẽn tai ngoài, chẳng hạn như chất lỏng hoặc ráy tai. Đối với điếc đột ngột không có nguyên nhân rõ ràng, có thể xác định được khi đo thính lực đơn âm (tên tiếng Anh là Pure Tone Audiometry) trong vài ngày kể từ khi xuất hiện các triệu chứng để xác định bất kỳ mất thính giác thần kinh giác quan (sensorineural hearing loss). Với xét nghiệm đo thính lực đơn âm, bác sĩ có thể đo được mức độ lớn của các tần số hoặc âm vực khác nhau cần phải có trước khi người bệnh có thể nghe thấy. Dấu hiệu của điếc đột ngột có thể là mất ít nhất 30 decibel (decibel là thước đo cường độ âm thanh) trong ba tần số được kết nối trong vòng 72 giờ. Nếu người bệnh được chẩn đoán bị điếc đột ngột, bác sĩ có thể sẽ yêu cầu các xét nghiệm bổ sung, những xét nghiệm này có thể xét nghiệm máu, hình ảnh (thường là hình ảnh cộng hưởng từ hoặc MRI) và xét nghiệm cân bằng (balance tests). Các giải pháp điều trị bệnh Điếc đột ngột do nhiều tác nhân gây ra nên việc xác định nguyên nhân cụ thể là rất khó. Có đến 85 - 90% bệnh nhân không tìm được lý do gây bệnh. Hiện nay, có nhiều loại thuốc điều trị được sản xuất với tiêu chí hướng đến bao vây các nguồn gây bệnh. Tuy nhiên, người bệnh không nên tự ý sử dụng mà phải tuân theo sự chỉ dẫn và kê đơn của bác sĩ chuyên khoa. Đối với những bệnh nhân không tìm thấy nguyên nhân: Corticosteroids, oxy cao áp liệu pháp, quan sát và đánh giá lại thính lực đồ bệnh nhân, thiết bị trợ thính,… Với các bệnh nhân đã tìm thấy được lý do gây bệnh: Với mỗi trường hợp, các bác sĩ sẽ chữa trị với những phương pháp phù hợp và thường xuyên theo dõi tình hình bệnh. Bệnh nhân cần nghe theo chỉ dẫn của bác sĩ, không dùng các chất có hại cho cơ thể như bia, rượu,… Biện pháp phòng tránh  Để đảm bảo tai bạn được an toàn, phòng tránh điếc đột ngột, cần lưu ý những điểm sau. Bảo vệ và tuyệt đối không để bị chấn thương ở vùng đầu (tai). Sử dụng dụng cụ riêng để lấy ráy tai. Cần có thời gian nghỉ ngơi thư giãn mỗi ngày tránh stress. Những nơi có tiếng ồn lớn, tránh đến. Hạn chế dùng tai nghe. Giữ gìn sức khỏe, bảo vệ bản thân khi ra đường bằng cách mang khẩu trang để tránh nguy cơ lây bệnh siêu vi. Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn, hạn chế bia, rượu, thuốc lá,…  Khi đã mắc các bệnh nội khoa như tim mạch, tiểu đường, huyết áp, tĩnh mạch,… các bệnh viêm nhiễm siêu vi không nên làm việc nhiều, hãy dành thời gian nghỉ ngơi và chăm sóc về sức khỏe tinh thần lẫn thể chất kết hợp với điều trị của bác sĩ. Không làm việc trong môi trường quá ồn. Chỉ sử dụng kháng sinh khi được bác sĩ kê đơn. Trên đây là bài viết Điếc đột ngột, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
135
Kinh nguyệt ra nhiều có sao không?
Kinh nguyệt ra nhiều có sao không?
Nhiều chị em phụ nữ đôi khi đến “ngày đèn đỏ” thì thấy máu kinh nguyệt ra nhiều bất thường, ảnh hưởng đến công việc lẫn sinh hoạt hàng ngày. Vậy chảy máu kinh nguyệt nhiều như thế có nguy hiểm không, nguyên nhân do đâu và xử lý như thế nào? Tình trạng máu kinh ra nhiều có phổ biến không? Kinh nguyệt ra nhiều là hiện tượng khá phổ biến. Có khoảng một phần ba số nữ giới phải tìm cách xử lý tình trạng này mỗi khi đến kỳ kinh nguyệt. Máu kinh ra nhiều là dấu hiệu không bình thường, cảnh báo một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn. Điều này khiến cho việc sinh hoạt của chị em trở nên khó khăn, bất tiện. Nếu nhận thấy chảy máu kinh nguyệt nhiều hơn bình thường, hãy đi thăm khám với bác sĩ sản phụ khoa để được chẩn đoán chính xác. Minh họa cho tình trạng kinh nguyệt ra quá nhiều   Dấu hiệu kinh nguyệt ra quá nhiều Như đã nói ở trên, thời gian hành kinh thường từ 3 - 7 ngày, nếu kéo dài trên 7 ngày được gọi là rong kinh. Nhiều trường hợp kéo dài, kèm theo lượng máu kinh mỗi lần thay băng thường rất nhiều (2 - 3 tiếng đã phải thay băng). Tình trạng ra máu ồ ạt này nếu diễn ra trong cả ngày hoặc nhiều giờ liên tiếp thì đó là kinh nguyệt quá nhiều. Đôi khi máu kinh kèm them theo cả những cục máu đông rất lớn thì cũng báo hiệu biểu hiện bất thường về sức khỏe. Kinh nguyệt ra nhiều có nguy hiểm không? Liệu kinh nguyệt ra nhiều có nguy hiểm không? Mức độ nguy hiểm của tình trạng này còn tùy thuộc là lượng máu có nhiều ở mức độ nào. Đồng thời phải khám để xác định những nguyên nhân gây ra tình trạng máu kinh ra nhiều thì mới biết được mức độ nguy hiểm của bệnh. Khi chưa được chẩn đoán thì ảnh hưởng trước hết của tình trạng này là chị em sẽ bị thiếu máu do bị mất máu quá nhiều. Biểu hiện ban đầu là gây choáng váng, mệt mỏi, da xanh xao. Đây có thể là dấu hiệu của bệnh lý và cần được thăm khám ngay để có hướng điều trị kịp thời.  Nguyên nhân gây ra chảy máu kinh nguyệt ồ ạt? Có nhiều nguyên do khiến cho hiện tượng chảy máu kinh nguyệt trở nên nghiêm trọng hơn. Một số nguyên nhân có thể kể đến, bao gồm: U xơ và polyp tử cung Lạc nội mạc tử cung Ngày rụng trứng không đều đặn Rối loạn chảy máu Aspirin và các nhóm thuốc làm loãng máu có thể dẫn đến chảy máu kinh nguyệt càng nặng hơn Sử dụng dụng cụ tránh thai (vòng tránh thai) Ung thư nội mạc tử cung Các nguyên nhân khác: liên quan đến mang thai (chẳng hạn như mang thai ngoài tử cung và sảy thai), viêm vùng chậu... Phải làm gì khi kinh nguyệt ra nhiều? Việc đầu tiên khi có hiện tượng kinh nguyệt ra quá nhiều là bạn cần phải đến ngay các cơ sở y tế gần nhà để sớm có biện pháp điều trị. Việc điều trị trước tiên sẽ ưu tiên việc cầm máu cho bệnh nhân. Bao gồm: - Kháng sinh chống nhiễm trùng. - Thuốc có tử cung như: oxytocin, ergometrin,... - Thuốc giúp đông máu như: transamin. - Nạo buồng tử cung cầm màu. - Sử dụng thuốc có chưa nội tiết hormon. Sau khi cầm máu thành công, sẽ tiến hành điều trị theo nguyên nhân: - Với u xơ tử cung hoặc lạc nội mạc tử cung: phẫu thuật cắt khối u hoặc thuyên tắc động mạch tử cung. - Polyp buồng tử cung: nội soi buồng cắt polyp gửi GPB. - Polyp cổ tử cung: xoắn hoặc đốt polyp cổ tử cung. - Ung thư cổ tử cung: phẫu thuật khiết hợp với xạ trị, hoá trị tuỳ theo giai đoạn. - Rối loạn hormon nội tiết: dùng thuốc có chứa hormon nội tiết dự phòng máu kinh ra nhiều kẻ các chu kỳ sau. Để phòng tránh những trường hợp bất thường có thể xảy ra trong kỳ kinh nguyệt, các chị em nên thăm khám sức khỏe định kỳ. Khám phụ khoa ít nhất 6 tháng 1 lần. Khám sàng lọc ung thư cổ tử cung. Đây là cách tốt nhất để đề phòng các bệnh về tử cung, phát hiện sớm các yếu tố bất thường hoặc nguy cơ tiềm ẩn gây bệnh để xử trí kịp thời. Đồng thời nhanh chóng phát hiện các bệnh nguy hiểm ngay trong giai đoạn sớm nhất để điều trị hiệu quả, tránh những biến chứng về sau.  Như vậy, việc kinh nguyệt ra nhiều có nguy hiểm không chúng ta đã có câu trả lời. Việc mất máu quá nhiều trong thời gian ngắn sẽ gây ra tình trạng thiếu máu trầm trọng. Đây còn là biểu hiện bệnh ký, do đó các chị em cần chủ động nắm bắt tình trạng sức khỏe, không nên chủ quan trước bất cứ bất thường nào. Trên đây là bài viết Kinh nguyệt ra nhiều, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
152
Vai trò của hormone LH trong quá trình mang thai?
Vai trò của hormone LH trong quá trình mang thai?
Kiến thức về Hormone LH, thời điểm mức độ hormone tăng lên và mối quan hệ giữa sự gia tăng và khả năng sinh sản này rất quan trọng đối với phụ nữ đang cố gắng có thai. Có một số cách để theo dõi sự gia tăng LH hàng tháng. Trong bài viết dưới đây sẽ mô tả các phương pháp theo dõi, thời gian tăng kéo dài bao lâu và cách sử dụng chúng để tăng tỷ lệ mang thai. Hormone tạo hoàng thể (LH) là gì? Hormone LH, hay hormone tạo hoàng thể, giống như hormone kích thích nang trứng (FSH), là hormone tuyến sinh dục được sản xuất và giải phóng bởi các tế bào phần trước tuyến yên. Hormone này đóng quan trọng trong việc điều chỉnh chức năng của tinh hoàn ở nam giới và buồng trứng ở nữ giới. Ở phụ nữ, LH thực hiện các vai trò khác nhau trong hai nửa của chu kỳ kinh nguyệt. Trong tuần đầu tiên và tuần thứ hai của chu kỳ, cơ thể cần LH để kích thích các nang noãn trong buồng trứng để sản xuất nội tiết tố sinh dục nữ - Estradiol. Vào khoảng ngày 14 của chu kỳ, nồng độ LH gia tăng làm cho nang noãn bị vỡ và giải phóng một noãn bào trưởng thành (trứng) từ buồng trứng, chính là quá trình mà chúng ta gọi là sự rụng trứng. Trong phần còn lại của chu kỳ (tuần thứ 3 đến tuần thứ 4), phần còn lại của nang noãn tạo thành một hoàng thể. LH kích thích hoàng thể sản xuất progesterone, là hormone cần thiết để hỗ trợ giai đoạn đầu của thai kỳ, nếu sự thụ tinh xảy ra. Cơ chế kiểm soát hormone LH Việc kiểm soát hormone LH tiết ra từ phần trước tuyến yên được điều hòa thông qua một hệ thống gọi là trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục. Hormone giải phóng Gonadotropin được giải phóng từ vùng dưới đồi và liên kết với các thụ thể ở tuyến yên trước để kích thích cả quá trình tổng hợp và giải phóng LH (và FSH (hormone kích thích nang trứng)). LH được giải phóng vào máu, nơi nó liên kết với các thụ thể trong tinh hoàn và buồng trứng để điều chỉnh sự tiết hormone của chúng và sản xuất tinh trùng hoặc trứng. Sự giải phóng hormone từ tuyến sinh dục có thể ức chế sự tiết hormone giải phóng gonadotropin và đến lượt nó, LH từ phần trước tuyến yên. Khi mức độ hormone từ các tuyến sinh dục giảm, điều ngược lại xảy ra và hormone giải phóng gonadotropin và do đó LH tăng lên. Cơ chế này được gọi là phản hồi tiêu cực. Việc tinh chỉnh giải phóng LH rất quan trọng để duy trì khả năng sinh sản. Bởi vì điều này, các hợp chất được thiết kế bắt chước hoạt động của hormone giải phóng gonadotropin, hormone kích thích hoàng thể và hormone kích thích nang trứng được sử dụng để kích thích chức năng tuyến sinh dục trong các kỹ thuật hỗ trợ thụ thai như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Đo nồng độ LH có trong nước tiểu có thể được sử dụng để dự đoán thời điểm tăng LH ở phụ nữ và dựa trên đó để dự đoán thời điểm rụng trứng. Đây là một trong những phương pháp được sử dụng trong các bộ dụng cụ dự đoán rụng trứng được sử dụng cho các cặp vợ chồng muốn thụ thai. Chỉ số LH bao nhiêu là bình thường Hormone LH cùng với Hormone FSH đều được tạo ra từ vùng tuyến yên và nằm dưới sự điều khiển của GnRH vùng dưới đồi. Giá trị bình thường của Hormone LH vào khoảng 20UI/ l để làm xét nghiệm. Nồng độ LH khi đạt đỉnh lúc phóng noãn sẽ rơi vào khoảng 40-80 IU/l và kéo dài ít nhất 17 giờ (giúp noãn trưởng thành). Giai đoạn nang trứng, hoặc bắt đầu chu kỳ: 1.68 - 15 IU/L Giai đoạn rụng trứng vào khoảng giữa chu kỳ: 21,9 - 566,6 IU/L Giai đoạn hoàng thể, kết thúc chu kỳ: 0,61 - 16,3 IU/L Đối với những phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh, phạm vi bình thường là 14,2 - 52,5 IU/L. Khi nồng độ LH quá cao Nồng độ hormone LH quá cao có thể là dấu hiệu của vô sinh. Do sự tiết hormone LH được kiểm soát chặt chẽ bởi trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục, nồng độ LH cao trong máu cho thấy sản xuất steroid sinh dục từ tinh hoàn hoặc buồng trứng giảm.  Hội chứng buồng trứng đa nang cũng là tình trạng phổ biến ở chị em phụ nữ có liên quan đến nồng độ LH cao và giảm khả năng sinh sản. Đó là khi sự mất cân bằng giữa hormone tạo hoàng thể và hormone kích thích nang trứng có thể gây ra tình trạng sản xuất testosterone bất thường. Khi nồng độ hormone LH quá thấp Khi LH quá thấp cũng sẽ dẫn đến vô sinh ở cả phái nam và phái nữ, do chúng ta cần LH để hỗ trợ chức năng buồng trứng và tinh hoàn.  Các phương pháp kiểm tra nồng độ LH hiệu quả nhất Một trong những cách hiệu quả nhất để kiểm tra sự tăng vọt của LH là xét nghiệm máu. Bên cạnh đó, có rất nhiều chỉ điểm của thời điểm rụng trứng, bao gồm: Nồng độ LH trong nước tiểu Số ngày kể từ kỳ kinh cuối Kiểm tra dịch nhầy cổ tử cung Tuy nhiên, cách tốt nhất để kiểm tra sự tăng cao của LH chính là: Xét nghiệm máu với chỉ định của bác sĩ Sử dụng bộ dụng cụ dự đoán rụng trứng (OPK) tại nhà Trên đây là bài viết Vai trò của hormone LH trong quá trình mang thai, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
130
Cắt thận nội soi được chỉ định trong trường hợp nào?
Cắt thận nội soi được chỉ định trong trường hợp nào?
Phẫu thuật cắt bỏ thận nội soi là kỹ thuật hiện đại, thường được áp dụng để điều trị các trường hợp ung thư thận, hoặc thận mất chức năng. Trong phẫu thuật cắt thận nội soi, dụng cụ phẫu thuật sẽ được đưa vào cơ thể qua các trocar ở đường trong phúc mạc hoặc đường sau phúc mạc. Phẫu thuật cắt thận nội soi là gì? Phẫu thuật cắt thận nội soi bao gồm: cắt thận đơn giản trong bệnh thận lành tính mất chức năng, cắt thận tận gốc hay cắt toàn bộ thận và mỡ quanh thận thành 1 khối trong ung thư tế bào thận, cắt thận với một phần niệu quản đoạn trên hoặc toàn bộ niệu quản trong ung thư niệu mạc của thận hoặc niệu quản và cắt thận người cho trong ghép thận. Phẫu thuật có thể được thực hiện qua đường trong phúc mạc hoặc sau phúc mạc. Thận được lấy ra toàn vẹn qua đường mở nhỏ sườn thắt lưng hoặc bệnh phẩm được cắt nhỏ và được lấy qua đường mổ mở rộng lỗ trocar. Mổ nội soi cắt thận trong trường hợp ung thư thận   Cắt thận nội soi được chỉ định trong trường hợp nào? Cắt thận nội soi được chỉ định trong các trường hợp sau đây:  Các bệnh thận lành tính và thận đã mất chức năng, xác định bằng chụp đồng vị phóng xạ cho thấy chức năng thận kém ( < 10%) hoặc chẩn đoán hình ảnh (CTScan) cho kết quả thận ứ nước độ IV. Các nguyên nhân thường gặp:  Thận ứ nước mất chức năng do sỏi niệu quản, sỏi bể thận niệu quản.  Thận ứ nước mất chức năng do bệnh lý bẩm sinh: Hội chứng hẹp khúc nối bể thận - niệu quản, phình to niệu quản hay trào ngược bàng quang - niệu quản.  Thận ứ nước mất chức năng do hẹp niệu quản sau mổ.  Tăng huyết áp do mạch thận: Hẹp động mạch thận, thận teo nhỏ.  Bệnh thận đa nang mất chức năng. Ung thư: Ung thư tế bào sáng của thận (RCC: T1 - T3a), ung thư tế bào chuyển tiếp đường bài xuất bể thận hoặc niệu quản (TCC) Cắt thận nội soi trên người cho sống để ghép thận. Cắt thận nội soi diễn ra thế nào? 4.1. Chuẩn bị ● Xét nghiệm cơ bản và đánh giá sự bù trừ chức năng của bên thận còn lại. ● Siêu âm bụng, chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu có cản quang để xác định nguyên nhân bệnh lý và đánh giá chức năng thận hai bên. Có thể cần chụp niệu quản - bể thận ngược dòng nếu cần thiết. ● Chụp đồng vị phóng xạ để xác định chức năng của mỗi thận, phần trăm giảm hoặc mất chức năng của thận bệnh lý. ● Siêu âm Doppler mạch máu thận, chụp động mạch thận xác định tăng huyết áp do teo, hẹp động mạch thận. ● Chuẩn bị mổ theo quy định. 4.2. Tiến hành phẫu thuật Phẫu thuật mổ nội soi thận được tiến hành qua các bước chính sau: Bước 1: Tư thế Người bệnh nghiêng 75° đối với mổ nội soi qua phúc mạc và nghiêng 90° đối với mổ nội soi sau phúc mạc, độn ở dưới sườn thắt lưng bên đối diện. Bước 2: Gây mê Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, đặt thông mũi dạ dày, đặt thông niệu đạo lưu. Bước 3: Chọn vị trí và đặt trocar Trong phẫu thuật nội soi, các dụng cụ được đưa vào ổ bụng qua các trocar. Trong mổ cắt thận nội soi có thể chọn vị trí trocar ở: ● Đường qua phúc mạc: Đối với bên phải dùng 4 trocar, bên trái dùng 3 trocar. Mở nhỏ phúc mạc và đặt trocar đầu tiên l0mm ở vị trí cạnh rốn, đây là vị trí camera với ống kính 30 độ. Các trocar còn lại gồm có 2 trocar l0mm ở vị trí trên mào chậu và dưới bờ sườn, 1 trocar 5mm ở đường giữa rốn và mũi ức. ● Đường sau phúc mạc: Trocar 1: 10mm được đặt theo phương pháp mở ở vị trí trên mào chậu trên đường nách giữa để dùng camera với ống kính 30°. Trocar 2: 10mm ở đầu dưới xương sườn XII. Trocar 3: 5mm trên đường nách trước sao cho 3 trocar hợp thành tam giác. Có thể thêm trocar thứ 4 (5mm) trên đường nách trước, dưới bờ sườn. Bước 4: Tạo khoang sau phúc mạc Rạch da 1cm vị trí trocar 1, dùng Pince tách cân cơ vào khoang SPM, đưa bóng tự tạo bằng ngón tay găng vào và bom 400 - 600ml không khí để nong rộng. Đặt các trocar tiếp theo dùng dụng cụ phẫu tích rộng phẫu trường. Bước 5: Cắt thận ● Cắt thận nội soi qua phúc mạc Đối với cắt thận phải: Mở phúc mạc thành sau, đẩy đại tràng và tá tràng vào giữa, vén gan lên cao. Phẫu tích niệu quản khỏi mạch sinh dục cho tới cực dưới thận và rốn thận. Bộc lộ mặt trước tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch thận, động mạch thận nằm sau tĩnh mạch được tách riêng rẽ. Đối với cắt thận trái: Sau khi mở dọc mạc Toldt trái, cắt dây chằng lách - đại tràng thì đẩy lách và đại tràng trái vào trong, giải phóng cực dưới thận, niệu quản và bộc lộ động mạch tĩnh mạch thận. Phẫu tích động mạch, clip hemolock và cắt rời động mạch trước, sau đó clip hemolock, cắt rời tĩnh mạch. Đồng thời clip cắt tĩnh mạch thượng thận trái và tĩnh mạch sinh dục trái đổ vào tĩnh mạch thận. Thận được giải phóng lên cực trên, cực dưới và mặt sau. Niệu quản được giải phóng, clip và cắt xuống thấp. Áp lực ổ bụng được giảm xuống dưới 5mmHg để kiểm tra chảy máu vùng phẫu tích và mỏm cắt cuống thận. Bệnh phẩm được cắt nhỏ trong túi nội soi và lấy ra qua lỗ trocar. ● Cắt thận nội soi sau phúc mạc Mở cân Gerota, bóc tách, đẩy phúc mạc ra trước và đi vào lớp mỡ quanh thận. Phẫu tích qua cực dưới thận để bộc lộ niệu quản lên đến rốn thận, bộc lộ cực dưới thận, mặt sau và mặt trước sau đó bộc lộ cực trên thận. Đẩy thận ra trước và bộc lộ cuống thận, hoặc đi theo tĩnh mạch sinh dục bên trái để tìm tĩnh mạch thận. Phẫu tích lớp mỡ mặt trước và sau cuống thận. Nếu đi mặt sau sẽ bộc lộ được động mạch thận đầu tiên, nếu phẫu tích mặt trước sẽ bộc lộ được tĩnh mạch thận đầu tiên. Clip, hemolock và cắt động mạch thận trước. Tĩnh mạch thận có thể buộc tăng cường bằng chỉ khi clip để thu nhỏ đường kính, và cắt rời. Bộc lộ các động - tĩnh mạch thận phụ đi vào rốn thận và các động - tĩnh mạch cực thận đi vào các cực thận và tuyến thượng thận. Giải phóng quanh thận và niệu quản, clip cắt niệu quản xuống thấp, cắt toàn bộ thận, cầm máu các nhánh mạch xuất phát từ khối cơ thắt lưng và các mạch trong lớp mỡ quanh thận bằng đốt điện hay clip 5mm. Giảm áp lực bơm hơi xuống 5 - 10mmHg, phát hiện kỹ các điểm chảy máu ở vị trí hay gặp như: tĩnh mạch sinh dục, cuống thận, tuyến thượng thận, mỏm cắt niệu quản. Bệnh phẩm được cho vào trong túi nilon, lấy qua trocar đầu tiên. Lưu ý đối với cắt thận để ghép Cuống mạch thận được cặp cắt, có thể cắt tĩnh mạch được trước sau đó cắt động mạch sau. Thận được lấy toàn vẹn ra ngoài qua đường mở nhỏ ở thành bụng nối giữa 2 trocar đầu tiên, hoặc sau khi phẫu tích qua nội soi sẽ mở thành bụng trước, cặp cuống thận, sau đó cắt rời và lấy toàn vẹn ra ngoài. Theo dõi và xử trí tai biến Một số tai biến có thể gặp: ● Trong khi phẫu thuật: Rách phúc mạc, rách màng phổi, thủng cơ hoành, chảy máu do tổn thương tĩnh mạch chủ,... ● Sau phẫu thuật có thể gặp là Chảy máu trong ổ bụng, Tụ dịch hoặc áp xe tồn dư trong ổ bụng,.. Do đó, theo dõi và xử trí tai biến được thực hiện cả trong và sau khi phẫu thuật. Trên đây là bài viết Cắt thận nội soi được chỉ định trong trường hợp nào, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
141
Tập luyện phục hồi chức năng sau xạ trị ung thư đầu cổ
Tập luyện phục hồi chức năng sau xạ trị ung thư đầu cổ
Vật lý trị liệu có vai trò quan trọng để phục hồi chức năng cho bệnh nhân xạ trị ung thư đầu cổ. Vật lý trị liệu rất có lợi trong việc giúp khôi phục mô tế bào, sự mềm dẻo của mô, phạm vi chuyển động, sức mạnh, và sự tái kiểm soát tư thế nhằm khôi phục chức năng cho tất cả các vùng bị ảnh hưởng của cơ thể. Tại sao cần phải phục hồi chức năng sau xạ trị? Trong quá trình xạ trị, thường có sự chấn thương mô, cũng như sự viêm của các mô. Viêm tại chỗ cuối cùng dẫn đến sự hình thành mô sẹo, có thể gây tổn thương mô, mất tính di động và tính linh hoạt của da trong trường chiếu xạ. Ở vùng đầu và vùng cổ, điều này có thể gây khó khăn cho các cử động cổ, mặt và hàm. Ở hốc miệng, tình trạng xơ hóa sẽ gây trở ngại cho việc há miệng, nói và nuốt. Ở chân và phần dưới, điều này có thể dẫn đến nhiều khó khăn trong vận động, cũng như những khó khăn về chức năng khi đi bộ, chạy, cân bằng, vv xạ trị vùng cổ   Khi nào là thời điểm tốt nhất để bắt đầu điều trị liệu pháp vật lý trị liệu? Thời điểm tốt nhất để bắt đầu điều trị vật lý trị liệu là trong giai đoạn đầu của xạ trị. Điều này sẽ giúp làm giảm viêm cục bộ, và càng giảm viêm bằng liệu pháp vật lý thì sự xơ hóa mô sẹo sẽ ít xảy ra hơn. Bác sĩ, kỹ thuật viên vật lý trị liệu nên tìm hiểu và tương tác với chương trình xạ trị của bác sĩ xạ trị và sắp xếp các biện pháp điều trị vật lý phù hợp để bệnh nhân có thể đáp ứng cả hai cuộc hẹn theo cách hiệu quả nhất và kịp thời. Mục tiêu phục hồi trong/sau khi xạ trị là gì? Có nhiều mục đích, bao gồm những điều sau đây: Tăng cường chữa lành các mô da và mô dưới da Giảm sự hình thành mô sẹo Giảm thiểu đau, sưng và viêm Cải thiện phạm vi chuyển động Tối đa hóa tính di động chi Tối đa hóa chức năng Tái hồi phục khả năng tập thể dục, sở thích và cuộc sống nghề nghiệp / xã hội Vật lý trị liệu là gì? Vật lý trị liệu có thể nói là một hoạt động điều trị mà khi bệnh nhân tích cực tham gia vào. Nó hoạt động tốt nhất khi bệnh nhân làm việc cùng với bác sĩ vật lý trị liệu để giúp bệnh nhân phục hồi. Họ sẽ hướng dẫn bệnh nhân những lời khuyên và thông tin về những gì bệnh nhân có thể làm để giúp cho chính mình. Vai trò của nhà vật lý trị liệu Vai trò của chuyên viên vật lý trị liệu là đánh giá nhu cầu của bệnh nhân, xác định bất kỳ vấn đề nào có thể được giúp đỡ bởi liệu pháp vật lý và lập kế hoạch điều trị cá nhân cho bệnh nhân. Bệnh nhân thường sẽ được đánh giá vào một ngày sau khi xạ trị, và sẽ được xem xét theo yêu cầu cho đến khi bệnh nhân rời khỏi bệnh viện, hoặc cho đến khi không cần phải tập vật lý trị liệu nữa. Vật lý trị liệu có thể bao gồm: Kỹ thuật thở Tư vấn về tư thế Phục hồi chức năng di động nói chung (di chuyển xung quanh) Tập thể dục, vai và hàm Tập vận động cho các bệnh nhân Xạ trị vùng đầu cổ Hiện nay, xạ trị dần trở thành một trong ba phương pháp quan trọng trong điều trị ung thư, đặc biệt là ung thư vùng đầu – cổ. Ngoài những tác dụng to lớn thì xạ trị cũng gây ra những tác dụng không mong muốn. Các bài tập vật lý trị liệu chính là chìa khóa để hạn chế biến chứng, phục hồi chức năng cho các bệnh nhân.  Xạ trị có thể làm cho các tổ chức mô mềm vùng đầu cổ bị biến đổi gây nên tình trạng viêm, lâu ngày dẫn đến biến chứng xơ chai vùng đầu cổ và làm mất đi sự chuyển động bình thường của vùng đầu cổ. Trong đó các biến chứng hay gặp sau xạ trị vùng đầu cổ thường gặp là xơ cứng vùng cổ, khít hàm hay hạn chế há miệng và khó nuốt, nuốt khó, nuốt vướng, khô miệng. Để phòng ngừa và hạn chế các biến chứng trên xảy ra, ngay trong lúc xạ trị và sau khi xạ trị bệnh nhân phải thường xuyên luyện tập các động tác vận động vùng đầu cổ theo các hướng dẫn sau: Gập cổ, ngửa cổ, nghiêng đầu  Động tác gập cổ: giữ trong 5s, từ từ gập cổ xuống Động tác ngửa cổ: Từ từ ngửa cổ về phía sau, giữ trong 5s Động tác nghiêng đầu sang trái, phải: Giữ trong 5s Há miệng.  Há miệng rộng nhất có thể, giữ trong 5s, lặp lại 5-10 lần Thè lưỡi, chuyển động lưỡi Thè lưỡi tối đa, giữ trong 5s.  Động tác nâng, và hạ đầu lưỡi, thè lưỡi ra ngoài, di chuyển đầu lưỡi tối đã chạm mũi, chạm cằm, sang 2 bên, trái phải giữ trong 5s Hít sâu, giữ nguyên, tập ho Hít sâu, giữ nguyên, sau đó bật ho mạnh nhất có thể, lặp lại 5 lần Tập gốc lưỡi Đưa lưỡi ra ngoài, đặt giữa răng cửa và môi, cố găng nuốt nước bọt, lặp lại từ 5-10 lần Bài tập súc họng Ngửa lên trần nhà, giả vờ như đang súc miệng bằng không khí trong 5s Bài tập nâng đầu Nằm ngửa, vai và đầu trên mặt phẳng, giữ nguyên vai, siết chặt cơ vùng cổ, nâng đầu cố gắng chạm cằm vào ngực. Cố gắng lặp lại 5-10 lần. Bệnh nhân sẽ bắt đầu các bài tập kể từ khi bắt đầu xạ trị. Tập các bài tập mỗi ngày sẽ giúp bệnh nhân hoàn thành được quá trình điều trị cũng như hạn chế các tác dụng không mong muốn về sau này.  Trên đây là bài viết Tập luyện phục hồi chức năng sau xạ trị ung thư đầu cổ, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
129
SỎI THẬN 6-7MM CÓ NÊN PHẪU THUẬT HAY KHÔNG?
SỎI THẬN 6-7MM CÓ NÊN PHẪU THUẬT HAY KHÔNG?
Sỏi thận là một bệnh lý khá bổ biến ở nước ta, bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, trong đó gặp nhiều ở người cao tuổi. Sỏi thận chiếm đến 50% các bệnh về sỏi, bệnh dễ tái phát và có thể gây ra nhiều biến chứng, trong đó nguy hiểm nhất là suy thận. Sỏi thận 6 - 7mm có nguy hiểm không? Sỏi thận có diễn biến âm thầm, được hình thành do sự lắng đọng của các chất cặn trong nước tiểu, khi các chất cặn kết tụ lại sẽ tạo thành sỏi. Mới đầu viên sỏi có kích thước nhỏ, thường chưa có biểu hiện gì. Theo thời gian, kích thước viên sỏi tăng dần, khi nó chèn ép gây ứ nước tiểu, nhiễm khuẩn,... sẽ có các biểu hiện như đau hông lưng, tiểu buốt, khi đó bệnh nhân mới đi khám và phát hiện ra sỏi. Thông thường, những viên sỏi có kích thước nhỏ dưới 5mm có khả năng theo nước tiểu thoát ra ngoài một cách tự nhiên. Với những viên sỏi có kích thước lớn hơn, từ 7mm trở lên khả năng tự đào thải là rất thấp. Các viên sỏi lớn sẽ gây ra những cơn đau ở vùng hông lưng hai bên, tiểu rắt, thậm chí có thể bị nhiễm trùng, sốt,... Lúc này, người bệnh cần phải đi khám ngay để các bác sĩ thăm khám và đưa ra phương pháp điều trị thích hợp. Nếu người bệnh không có sự quan tâm đúng mức đến sức khỏe sẽ khiến cho kích thước viên sỏi gia tăng nhanh chóng, gây ra những biến chứng nguy hiểm như tắc đường tiểu, nhiễm trùng, suy thận cấp tính hay mạn tính, thậm chí có thể gây vỡ thận. sỏi 6-7mm   Người bị sỏi thận 6-7mm nên uống thuốc hay phẫu thuật? Việc chỉ định điều trị sỏi thận phụ thuộc vào hai yếu tố: Kích thước sỏi và sự tác động của sỏi tới thận. Thông thường, với người bị sỏi thận 6mm sẽ được chỉ định điều trị nội khoa, tăng lượng nước tiểu, có một số loại thuốc có khả năng hòa tan một số loại sỏi thường gặp với thành phần hóa học là urat hoặc cystine. Tuy nhiên các loại thuốc này không hòa tan được sỏi canxi trong khi có đến 80% sỏi thận là sỏi canxi. Trong trường hợp sỏi thận có kích thước 7mm, gây tắc nghẽn, nhiễm khuẩn đường tiết niệu cần phải can thiệp ngoại khoa. Có thể là mổ mở hoặc mổ nội soi. Với sự phát triển của ngành y tế, ngày nay mổ nội soi là phương pháp được lựa chọn phổ biến nhất. Tuy nhiên vẫn có rất nhiều trường hợp người bệnh bị sỏi quá lớn, có biến chứng kèm theo, không thể thực hiện mổ nội soi nên phải được thực hiện mổ mở để lấy sỏi ra ngoài. Các phương pháp điều trị ngoại khoa có thể áp dụng với sỏi thận 6 - 7mm bao gồm: + Nội soi tán sỏi qua da chuẩn thức : Đây là phương pháp kĩ thuật cao, ít xâm lấn, có thể điều trị những viên sỏi thận có kích thước lớn, đặc biệt là sỏi san hô. + Nội soi tán sỏi qua da tối thiểu: Phương pháp phẫu thuật dựa trên nguyên tắc của phương pháp nội soi thận qua da chuẩn thức nhưng sử dụng máy nội soi niệu quản kích thước nhỏ. Đây là phương pháp có thể áp dụng cho các viên sỏi có kích thước 15-25mm, ít đau đớn, ít chảy máu và ít gây tổn thương đến chức năng thận. + Phương pháp nội soi niệu quản (Ureteroscopy): Phương pháp này sử dụng ống nội soi niệu quản rất nhỏ để tiếp cận viên sỏi, sau đó sử dụng Laser tán vỡ vụn viên sỏi và hút sỏi ra ngoài bằng ống nội soi. Cuối cùng một ống thông mềm mại được đặt vào hệ tiết niệu, 2 đầu ống cuộn tròn trong bể thận và bàng quang, sau 2 tuần thì rút ống thông ra. Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến hiện nay bởi những ưu điểm ít đau, không có sẹo mổ, thời gian nằm viện ngắn. + Phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL): Đây là phương pháp chữa sỏi thận hiệu quả và nhẹ nhàng nhất được áp dụng cho các trường hợp sỏi có kích thước < 15mm. Phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể sẽ sử dụng sóng xung kích để làm vỡ sỏi, sau đó các mảnh vụn sỏi sẽ được đào thải một cách tự nhiên theo nước tiểu. Tỷ lệ hết sỏi theo phương pháp này từ 55-85%. Như vậy, sỏi thận 6-7mm không phải quá to, cũng không phải còn nhỏ, việc lựa chọn phương pháp điều trị nên phụ thuộc vào loại sỏi, sự tác động của sỏi đến thận cũng như tình trạng sức khỏe người bệnh. Trên đây là bài viết SỎI THẬN 6-7MM, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
116
Ưu điểm của phẫu thuật Phaco điều trị đục thủy tinh thể
Ưu điểm của phẫu thuật Phaco điều trị đục thủy tinh thể
Phẫu thuật Phaco được đánh giá là phương pháp mổ đục thủy tinh thể thể an toàn, hiệu quả và tiên tiến nhất. Hiện nay Vinmec là một trong những cơ sở áp dụng kỹ thuật này trong việc điều trị đục thủy tinh thể. Thế nào là phẫu thuật Phaco? Phẫu thuật Phaco (Phacoemulsification) hay còn gọi là công nghệ mổ mắt Phaco hoặc mổ cườm Phaco. Phương pháp này sử dụng năng lượng sóng âm để tán nhuyễn và tách thủy tinh thể đục thành những mảnh nhỏ rồi hút ra ngoài qua một vết mổ nhỏ, và thay vào đó bằng một thủy tinh thể nhân tạo. Đây được coi phương pháp phẫu thuật an toàn, hiệu quả nhất hiện nay. Hiện nay ở nước ta, công nghệ mổ mắt Phaco đã trở thành phổ biến với những ưu điểm, Chính vì vậy số lượng bệnh nhân được mổ đục thủy tinh thể theo phương pháp này ngày càng tăng. đục thủy tinh thể   Ưu điểm: Phẫu thuật Phaco (Phacoemulsification: nghĩa là nhũ tương hóa thủy tinh thể) đã được đưa vào áp dụng gần 20 năm nhưng cho đến nay nó vẫn là một kỹ thuật tiên tiến và hiện đại. Phaco được xem như một “cuộc cách mạng” của ngành nhãn khoa. Nếu các kỹ thuật mổ trước đây kết quả không được khả quan lắm nhưng hiện nay nhờ có Phaco giúp bệnh nhân sau khi mổ có thể nhìn thấy rõ mà không phải mang kính hoặc sử dụng kính nội nhãn. - Phẫu thuật Phaco diễn ra nhanh, an toàn cho người bệnh. - Phẫu thuật không gây đau, không chảy máu, bệnh nhân có thể xuất viện ngay trong ngày. - Vết mổ nhỏ, không cần khâu, giảm hiện tượng loạn thị. - Thị lực của bệnh nhân phục hồi sớm và tốt sau mổ một hoặc vài ngày (nhiều bệnh nhân chỉ vừa rời - bàn mổ đã thấy mắt sáng rõ, dù trước đó nhìn rất mờ như có màn sương trước mặt). - An toàn, giảm các biến chứng của phẫu thuật. - Có thể điều chỉnh một số tật khúc xạ. Nhược điểm: Tuy nhiên, cũng có rất nhiều biến chứng ngoài ý muốn trước và sau quá trình phẫu thuật. Vậy làm thế nào để giảm thiểu các biến chứng đó? Các biến chứng trước phẫu thuật: - Nhỏ thuốc tê, chích gây tê cũng có thể gây ra biến chứng; bệnh nhân dị ứng hoặc sốc thuốc, gây tai biến,… - Khi thực hiện phẫu thuật do nhiều yếu tố tác động cũng có thể gây ra các rủi ro như:  + Không loại bỏ được hoàn toàn thủy tinh thể bị đục.  +Rách lớp màng nâng đỡ thủy tinh thể.  + Xuất huyết trong mắt.  + Một phần thủy tinh thể đã bị đục còn lại lạc về phía sau của mắt.  + Tổn thương các phần khác của mắt như phù giác mạc. Biến chứng sau phẫu thuật: - Nhiễm trùng - Sưng, viêm,… Sau khi phẫu thuật Phaco: - Bệnh nhân sẽ được các bác sĩ hướng dẫn, dặn dò về việc sử dụng thuốc uống (kháng sinh, kháng viêm, giảm đau), thuốc nhỏ mắt; cần tuân thủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ. - Bệnh nhân ăn uống bình thường, không phải kiêng cữ. Nhưng đặc biệt cần hạn chế việc uống rượu, bia, hút thuốc lá. - Bệnh nhân có thể xem sách báo, tivi bình thường, không nhất thiết phải hạn chế những điều này. - Đeo kính bảo hộ thường xuyên kể cả khi ngủ, tránh để nước dơ, nước bẩn văng vào mắt. Tóm lại, hiện nay có rất nhiều phương pháp mổ đục thể thủy tinh có thể áp dụng tùy thuộc vào hoàn cảnh và kinh tế của từng bệnh nhân. Việc hiểu rõ về điều trị cũng như phương pháp mổ giúp người bệnh giảm bớt lo lắng một cách đáng kể trước khi phẫu thuật. Mong rằng bài viết trên đã giúp bạn có được nhiều thông tin hữu ích về mổ đục thể thủy tinh. 
120
Augmentin, công dụng liều dùng và cách sử dụng
Augmentin, công dụng liều dùng và cách sử dụng
Liều dùng Augmentin được xác định theo tuổi, cân nặng, chức năng thận của trẻ và mức độ nặng của nhiễm khuẩn. Tuy nhiên đối với trẻ em trên 12 tuổi hoặc nặng từ 40kg trở lên, bác sĩ có thể cân nhắc liều dùng như người lớn. Augmentin là gì và công dụng Augmentin là gì? Augmentin là một loại kháng sinh phổ rộng, thường được dùng trong điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng. Thuốc này có thành phần là amoxicillin và clavulanat kali, thuộc kháng sinh nhóm penicillin. Trong đó, amoxicilin có tác dụng kháng khuẩn, tiêu diệt chống lại vi khuẩn gây bệnh, còn clavulanate có cấu trúc beta - lactam gần giống penicillin, có khả năng ức chế beta - lactamase do phần lớn các vi khuẩn gram âm và Staphylococcus sinh ra. Augmentin là kháng sinh phổ rộng, được ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh nhiễm khuẩn   Công dụng của Augmentin Augmentin có tác dụng tốt đối với nhiều loại vi khuẩn Gram âm và Gram dương, kể cả những loại có tính kháng amoxicillin, ampicillin và các vi khuẩn có khả năng tiết beta - lactamase. Có thể sử dụng kháng sinh này để điều trị nhiều bệnh khác nhau, ví dụ:  Các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên như viêm xoang, viêm amidan, viêm mũi, viêm tai giữa,… Các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới: viêm phế quản cấp, mạn tính, viêm phế quản - phổi, viêm phổi thùy,… Bệnh viêm tủy xương, các nhiễm khuẩn xương khớp khác cần điều trị kéo dài. Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục - tiết niệu: bệnh lậu, bệnh nhiễm khuẩn sinh dục nữ, viêm âm đạo, viêm bàng quang, viêm thận - bể thận, viêm niệu đạo,… Nhiễm trùng do nạo hút thai không an toàn, sẩy thai, nhiễm trình do sinh nở. Nhiễm khuẩn ổ bụng, nhiễm trùng da, cơ,… Có thể thấy rằng, augmentin có tác dụng tốt với nhiều chủng vi khuẩn khác nhau nên được ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, thuốc này không có tác dụng với virus hoặc nấm. Vì thế không nên lạm dụng thuốc để điều trị các bệnh nhiễm trùng không do vi khuẩn vì sẽ gây hiện tượng kháng thuốc, hậu quả nghiêm trọng về sau. Liều dùng Augmentin được bào chế dưới dạng gói hoặc dạng viên (250mg, 500mg, 1000mg). Thuốc này cũng có thể được bào chế dưới dạng dung dịch tiêm. Sử dụng thuốc này cần tùy thuộc vào thể trạng của mỗi người. Ở những mức độ bệnh lý, độ tuổi, cân nặng, tình hình sức khỏe, khả năng đáp ứng điều trị khác nhau thì liều lượng sử dụng sẽ khác nhau.  Liều dùng tham khảo: Đối với trẻ sinh non và trẻ sơ sinh, không khuyến cáo sử dụng thuốc này trong điều trị. Đối với trẻ em dưới 12 tuổi: có thể sử dụng liều 40 - 50 mg/ ngày. Nên chia ra nhiều lần uống trong ngày, thường được khuyến cáo uống ngày 3 lần. Chú ý liều tối đa clavulanate kali cho phép là 15 mg/kg thể trọng/ngày. Đối với trẻ em trên 12 tuổi và người trưởng thành: Có thể sử dụng liều 1500mg/ngày, chia 3 lần uống trong ngày. Mỗi lần uống 1 viên hoặc 1 gói augmentin 500 mg. Đối với người cao tuổi: nên sử dụng 1000mg/ngày chia 2 lần uống nếu nhiễm khuẩn nhẹ. Nếu nhiễm khuẩn nặng có thể dùng liều 1500mg/ngày chia 3 lần uống.  Đối với bệnh nhân suy thận nhẹ có thể sử dụng liều như người trưởng thành bình thường. Những bệnh nhân suy thận trung bình và suy thận nặng (có độ thanh thải Creatinin < 30ml/phút) không khuyến cáo dùng thuốc có tỷ lệ amoxicillin/clavulanate bằng 8/1. Chỉ định của Augmentin Augmentin gồm 2 thành phần là Amoxicillin và acid clavulanic. Amoxicillin là một kháng sinh thuộc nhóm penicilin có tác dụng tiêu diệt một số loại vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên nhiều vi khuẩn có khả năng tạo ra một loại men làm giảm tác dụng của amoxicillin. Chính vì vậy, thành phần thứ 2 - acid clavulanic được thêm vào để ngăn cản men này hoạt động, giúp amoxicillin vẫn phát huy được tác dụng. Vì bản chất là một kháng sinh, Augmentin chỉ có tác dụng điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra. Thuốc không có tác dụng với các bệnh do nhiễm virus (ví dụ: cảm lạnh hoặc cúm....). Do Augmentin chỉ có tác dụng trên một số loại vi khuẩn nhất định nên thuốc có thể hiệu quả trong nhiễm khuẩn này mà không có tác dụng trên các nhiễm khuẩn khác. Hơn nữa, vi khuẩn luôn luôn tìm cách thích nghi với tác dụng của kháng sinh làm cho nhiều kháng sinh vốn có hiệu quả tốt nay trở nên mất tác dụng (đề kháng kháng sinh). Do vậy, việc quyết định có cần sử dụng kháng sinh hay không và nên chọn loại kháng sinh nào cần có sự thăm khám, đánh giá phù hợp của bác sĩ. Việc một số phụ huynh tự ý cho trẻ dùng Augmentin (hoặc các loại kháng sinh khác) theo đơn thuốc cũ hoặc đơn thuốc của bệnh nhân khác có triệu chứng tương tự là không phù hợp. Những lưu ý khi sử dụng Augmentin Để đảm bảo sử dụng Augmentin có tác dụng tốt nhất và an toàn, hạn chế tác dụng phụ thì bạn cần nắm rõ những lưu ý khi sử dụng thuốc này. Một số lưu ý khi sử dụng thuốc này như sau:  Tuyệt đối không sử dụng thuốc nếu bệnh nhân có tiền sử dị ứng với bất kỳ thành phần nào của thuốc (amoxicillin và clavulanate).  Không nên sử dụng thuốc nếu bạn có vấn đề về gan hoặc bị dị ứng với các kháng sinh khác: kháng sinh nhóm oxacillin, penicillin, cloxacillin, ampicillin,… Nếu uống thuốc nhiều lần trong ngày, mỗi lần uống cần cách nhau 8 - 12 tiếng để đảm bảo thuốc phát huy tác dụng tốt nhất và thải trừ kịp thời. Để thuận tiện trong việc điều trị và sử dụng hiệu quả tốt nhất, bạn nên cố định giờ uống thuốc để tránh quên uống, bỏ liều, ảnh hưởng đến sức khỏe. Cần sử dụng thuốc đúng liều và đủ liều. Cần dùng thuốc đủ toa kê của bác sĩ, không được dừng uống giữa chừng nếu chưa được sự đồng ý của bác sĩ điều trị. Trong quá trình sử dụng thuốc, nếu có vấn đề gì xảy ra cần báo ngay cho bác sĩ điều trị để được tư vấn và xử lý kịp thời.  Nếu sử dụng thuốc có tác dụng nhanh chóng, bệnh nhanh khỏi cũng không được tự ý hạ liều mà cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Nếu uống hết liều và muốn sử dụng thêm, không được tự ý tìm mua tại các quầy thuốc tư nhân mà cần phải tái khám và keo kê toa của bác sĩ. Cũng tương tự như những kháng sinh khác, sử dụng augmentin không đúng cách sẽ dễ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trong đó, một tình trạng đáng cảnh báo khi sử dụng thuốc kháng sinh đó là tình trạng vi khuẩn kháng thuốc. Điều này gây ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng trong điều trị bệnh sau này. Vì thế, khi sử dụng thuốc này và các loại kháng sinh, biệt dược khác cần nắm rõ những lưu ý khi sử dụng để hạn chế hậu quả nghiêm trọng.  Augmentin có tác dụng phụ nào không? Khi sử dụng thuốc này trong điều trị, bệnh nhân có thể gặp phải một số tác dụng phụ sau đây:  Các triệu chứng liên quan đến tiêu hóa như nôn mửa, tiêu chảy thường dễ xảy ra sau vài giờ sử dụng thuốc. Đây là tác dụng không quá nguy hiểm nhưng nếu cảm thấy tình trạng xấu đi thì bạn cần báo ngay cho bác sĩ điều trị. Dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm candida ở da và niêm mạc. Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, mất bạch cầu hạt, thiếu máu, dung huyết, rối loạn đông máu, kéo dài thời gian prothrombin,… Phản ứng miễn dịch: sốc phản vệ, viêm mạch quá mẫn, phù mạch thần kinh,… Chóng mặt, đau đầu, co giật. Tăng các chỉ số men gan (AST, ALT,…), ứ mật, vàng da,… Rối loạn bài tiết ở thận, viêm thận kẽ. Bất kỳ trường hợp xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ là tác dụng phụ của thuốc, bạn cần gặp ngay bác sĩ để được xử lý kịp thời. Augmentin tuy có tác dụng tốt trong điều trị nhiều bệnh, tuy nhiên không nên lạm dụng thuốc này bởi vì dễ gây ra nhiều hậu quả xấu. Đồng thời, bệnh nhân cần tuân theo hướng dẫn của bác sĩ trong quá trình điều trị để phát huy tối đa tác dụng của thuốc Trên đây là bài viết Augmentin, công dụng liều dùng và cách sử dụng, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
118
Tán sỏi ngoài cơ thể
Tán sỏi ngoài cơ thể
Sỏi tiết niệu là bệnh lý thường gặp, hiện nay có nhiều phương pháp điều trị sỏi tiết niệu. Trong đó, tán sỏi ngoài cơ thể được xem là phương pháp mang lại hiệu quả điều trị cao, ít xâm lấn. Tán sỏi ngoài cơ thể là gì? Tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) kỹ thuật sử dụng sóng xung kích hội tụ vào viên sỏi để phá vỡ sỏi, bệnh nhân không hề bị bất kỳ một can thiệp nào khác vào cơ thể. Sau khoảng thời gian 7-15 ngày, các mảnh sỏi vụn sẽ tự thoát ra qua niệu quản, xuống bàng quang và theo đường tiểu tiện ra ngoài. Nguyên lý chính của phương pháp này là dùng sóng chấn động từ ngoài cơ thể tập trung vào một tiêu điểm với một áp lực cao làm vỡ hoặc làm vụn sỏi thành bụi nhỏ, sau đó bài tiết ra ngoài. Tán sỏi ngoài cơ thể thường được chỉ định cho các trường hợp sỏi thận nhỏ hơn 2 cm và sỏi niệu quản (trừ sỏi niệu quản khung chậu) mà không có dị dạng tiết niệu phối hợp. Đường tiết niệu phải thông suốt trên phim chụp có tiêm thuốc cản quang. Những trường hợp có bệnh lý về tim mạch, bệnh chảy máu, vẹo cột sống... sẽ được bác sĩ chuyên khoa cân nhắc cụ thể. tán sỏi ngoài cơ thể Triệu chứng thường gặp ở người bệnh sỏi tiết niệu  Sỏi tiết niệu có thể diễn tiến dữ dội hoặc âm thầm. Một số người bệnh phát hiện sỏi tình cờ nhờ chụp phim, siêu âm ổ bụng trong quá trình khám sức khỏe. Số khác phát hiện bệnh qua các biểu hiện lâm sàng. Triệu chứng của sỏi đường tiết niệu khá phong phú, hay gặp nhất là: đau lưng, hông bên có sỏi, tiểu buốt, có máu hoặc sốt nếu nhiễm trùng do sỏi.  Những trường hợp nào được chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể Khi nào thì cần tán sỏi? Trên thực thế, sỏi thận có nhiều kích cỡ, viên sỏi có cản quang thấp thì chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể. Người bệnh chỉ được bác sĩ chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể khi nằm trong các trường hợp sau: • Sỏi thận có kích thước
116
Bị sỏi thận uống nhiều nước có hiệu quả không?
Bị sỏi thận uống nhiều nước có hiệu quả không?
Uống nhiều nước rất tốt cho người bị sỏi thận. Nước giúp giảm khả năng hình thành sỏi, tiêu sỏi với những trường hợp sỏi nhỏ. Quá trình hình thành sỏi thận Chức năng của thận là lọc và loại bỏ những chất độc hại ra khỏi cơ thể thông qua nước tiểu. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, nhiều chất độc không thể hòa tan vào nước tiểu đã lắng đọng lại ở thận và hình thành sỏi thận. Tùy từng vị trí, mức độ lắng đọng và thời gian hình thành sỏi mà kích thước sỏi thận ở mỗi người, mỗi thời điểm là khác nhau. Sỏi có thể hình thành và di chuyển ở bất kể vị trí nào trên đường đi của nước tiểu. Có thể là sỏi thận, sỏi bàng quang hoặc sỏi niệu quản. Trong quá trình hình thành và phát triển sỏi, người bệnh không có những biểu hiện rõ rệt. Chỉ khi sỏi lớn gây đau đớn, đái ra máu, đái ra mủ hay vô tình đi khám thì người bệnh mới phát hiện. Nguyên nhân hình thành sỏi thận Các bệnh lý có sẵn: Các bệnh lý đường ruột, tiền sử cắt mổ ruột... cũng ảnh hưởng đến quá trình hấp thu dịch và khoáng chất gây nên bệnh sỏi thận; Nhiễm khuẩn đường tiểu tái phát nhiều lần: Một số loại vi khuẩn có khả năng làm giảm tính axit của nước tiểu, tăng khả năng hình thành sỏi. Uống ít nước: Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến sỏi thận, nhất là với những người thường xuyên phải lao động nặng, ra nhiều mồ hôi. Uống ít nước khiến nước tiểu bị cô đặc, giảm khả năng hòa tan các chất độc trong cơ thể, khiến các tinh thể trong nước tiểu dễ dàng lắng đọng, tạo thành sỏi; Ăn quá mặn, quá nhiều đạm: Muối và các thực phẩm giàu protein, đặc biệt là cá khô, thịt khô, lòng bò, lòng lợn, mắm... rất dễ gây sỏi thận; Sỏi thận có thể điều trị như thế nào Tùy thuộc vào kích thước của sỏi mà sẽ có những cách điều trị khác nhau, có những phương pháp tác động bên ngoài. Tính chất của việc điều trị sỏi thận là đưa sỏi ra khỏi cơ thể, có thể sử dụng cách bào mòn hoặc mổ để lấy.  Sử dụng thuốc  Để đưa được sỏi ra khỏi cơ thể người, các bác sĩ điều trị sẽ sử dụng kết hợp một số loại thuốc có liều lượng hợp lý. Thuốc chống viêm, giảm đau: được sử dụng để làm giảm cơn đau và những khó chịu do sỏi. Thuốc kiềm hóa nước tiểu: được dùng để điều chỉnh độ pH của nước tiểu. Thuốc kháng sinh: để đề phòng trường hợp đường tiết niệu bị viêm. Thuốc giảm nồng độ khoáng chất: giảm lượng acid uric khi bị sỏi acid uric. Thuốc lợi tiểu: tăng lượng nước tiểu thoát ra ngoài. Thuốc giãn cơ, làm trơn tiết niệu: được sử dụng để giúp đường tiết niệu được mở to hơn, giúp sỏi thận dễ di chuyển. Các biện pháp can thiệp Tán sỏi bên ngoài cơ thể bằng sóng xung kích ESWL: được áp dụng với loại sỏi nhỏ dưới 20mm ở sát thận. Sóng xung kích sẽ tán sỏi thành những vụn nhỏ để dễ đào thải ra ngoài.  Tán sỏi qua da: đây là một phương pháp được gọi là bước đột phá trong phẫu thuật thay thế phẫu thuật mở. Để thực hiện phương pháp này, người bệnh cần được gây mê toàn thân. Sau đó một thiết bị dùng để phá hủy sỏi sẽ được luồn qua da vào thận để làm nhiệm vụ phá hủy nó.  Mổ nội soi phúc mạc: bệnh nhân sẽ được gây mê toàn thân và các thiết bị sẽ được đưa vào cơ thể qua 3 đường nhỏ ở vùng hông - lưng. Thời gian để người bệnh phục hồi có thể là 3 - 4 ngày. Phẫu thuật mở để lấy sỏi: cách này được áp dụng khi viên sỏi quá lớn và bị mắc kẹt trong đường tiết niệu. Để người bệnh phục hồi sau phương pháp này cần thời gian khá lâu. Vậy bị sỏi thận uống nhiều nước có hiệu quả không? Nhiều người vẫn nghi ngờ rằng bị sỏi thận uống nhiều nước có hiệu quả không thì câu trả lời là có nhưng chỉ đối với các viên sỏi có kích thước nhỏ hơn 5mm. Uống nhiều nước sẽ làm tăng lưu lượng nước tiểu từ đó làm tăng khả năng đào thải ra ngoài theo nước tiểu. Cần uống tối thiểu 2,5 lít nước mỗi ngày, tránh để nước tiểu bị cô đặc làm các khoáng chất kết tinh lại tạo nên sỏi thận. Nên uống nước chanh, nước cam vì trong các nước này có chứa citrate tự nhiên, đây là chất giúp ngăn ngừa việc kết tinh các khoáng chất như (canxi, oxalat, acid uric). Citrate có trong cam chanh sẽ hòa tan các khoáng chất đồng thời bào mòn sỏi thận làm giảm kích thước sỏi để dễ đào thải ra ngoài. Sỏi thận có kích thước nhỏ hơn 5mm có thể thoát ra ngoài cùng với nước tiểu   Những điều cần làm để ngăn ngừa sỏi thận Sỏi thận là một căn bệnh gây rất nhiều phiền toái cho cuộc sống của người bệnh vì thế cần tránh những việc có thể hình thành sỏi trong thận. Không ăn thức ăn quá mặn. Hạn chế thực phẩm chứa nhiều Protein. Tránh các loại chế phẩm có chứa caffeine như: thuốc lá, cà phê, trà,… Hạn chế bia, rượu và các chất kích thích. Qua bài viết này, hi vọng bạn đã tìm ra câu trả lời cho câu hỏi bị sỏi thận uống nhiều nước có hiệu quả không. Việc bổ sung nhiều nước là một điều vô cùng cần thiết, ngay cả khi bạn có mắc sỏi thận hay không. Chúc bạn luôn khỏe mạnh và hạnh phúc trong cuộc sống.
115
Sống khỏe mạnh khi có một hệ miễn dịch yếu?
Sống khỏe mạnh khi có một hệ miễn dịch yếu?
Hệ miễn dịch rất cần thiết cho sự sống. Nếu không có hệ miễn dịch, cơ thể sẽ dễ dàng bị tấn công bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, v.v.... Hệ miễn dịch giữ cho chúng ta khỏe mạnh khi phải tiếp xúc với mầm bệnh. Hệ miễn dịch có ở khắp cơ thể và liên quan đến nhiều loại tế bào, cơ quan, protein và mô. Hệ miễn dịch yếu Hệ miễn dịch bảo vệ cơ thể khỏi bị mắc bệnh và nhiễm trùng trong suốt cả cuộc đời. Tuy nhiên, một số người có hệ miễn dịch yếu thường dễ bị mắc bệnh và mắc bệnh và nhiễm trùng hơn. Những người mắc ung thư trải qua các bước điều trị như hóa trị, xạ trị...cũng thường có hệ miễn dịch yếu. Các tế bào bạch cầu, kháng thể và các hạch bạch huyết, tạo nên hệ miễn dịch của cơ thể. Nhiều rối loạn có thể làm suy yếu hệ miễn dịch và khiến một người bị suy giảm miễn dịch. Những rối loạn suy giảm miễn dịch xuất hiện từ khi sinh ra hoặc do các yếu tố môi trường, bao gồm: HIV Một số bệnh ung thư Suy dinh dưỡng Viêm gan siêu vi Một số phương pháp điều trị y tế. Hệ miễn dịch giống như một lớp áo giáp bảo vệ sức khỏe con người khỏi các tác nhân xâm hại   Triệu chứng của hệ miễn dịch yếu Triệu chứng chính của hệ miễn dịch yếu là dễ bị mắc bệnh và nhiễm trùng. Một người có hệ miễn dịch yếu có khả năng bị mắc bệnh và nhiễm trùng thường xuyên hơn những người khác và những bệnh này sẽ nặng hơn hoặc khó điều trị hơn. Những bệnh mà người có hệ miễn dịch yếu thường bị mắc bệnh và nhiễm trùng bao gồm: Viêm phổi Viêm màng não Viêm phế quản Mắc bệnh và nhiễm trùng da. Những bệnh này tái phát với tần suất cao. Các triệu chứng khác của hệ miễn dịch yếu có thể bao gồm: Rối loạn tự miễn dịch Viêm nội tạng Rối loạn hoặc bất thường về máu, chẳng hạn như thiếu máu Các vấn đề về tiêu hóa, như mất cảm giác ngon miệng, tiêu chảy và đau quặn bụng Chậm phát triển ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Phải làm sao để sống khỏe mạnh khi có một hệ miễn dịch yếu? Không chỉ có những người có hệ miễn dịch kém mà ngay cả những người đang có sức khỏe tốt nhất cũng nên thực hiện các cách sau để có được một cơ thể khỏe mạnh, chống được mọi loại bệnh tật. Vệ sinh cá nhân sạch sẽ, thường xuyên: Việc giữ cơ thể luôn sạch sẽ có thể ngăn cản sự xâm hại của rất nhiều tác nhân gây hại, đặc biệt là vấn đề rửa tay bằng xà phòng sát khuẩn đúng cách. Những người đang mắc bệnh thì nên vệ sinh tay sạch sẽ trước và sau khi ăn và điều trị các vết thương hở, vệ sinh tay sau khi thực hiện các việc như: đi vệ sinh, thay bỉm trẻ em, tiếp xúc với người bệnh, tiếp xúc với động vật,... Hạn chế tiếp xúc với những người đang mang bệnh, đặc biệt là những bệnh nhân mắc các bệnh lý có khả năng truyền nhiễm cao. Thường xuyên làm sạch các vật dụng cá nhân và đồ đạc trong nhà bởi khả năng các loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hay nấm mốc sinh sôi phát triển trên đồ vật cũng khá nhiều. Tiêm phòng đầy đủ từ nhỏ hoặc tiêm dự phòng vaccine các bệnh lý truyền nhiễm gần nhất. Tăng cường tập luyện thể dục thể thao để giữ được một thân thể mạnh khỏe nhất, đồng thời cũng sẽ khiến gia tăng sức đề kháng của cơ thể. Thiết lập chế độ ăn uống dinh dưỡng cân bằng, đặc biệt là các loại thực phẩm xanh giàu vitamin và khoáng chất. Hạn chế tối đa các loại thức ăn mất vệ sinh ngoài đường phố và các loại thực ăn chứa nhiều mỡ động vật và nội tạng. Điều này quyết định tới 60 - 70% sức khỏe hệ miễn dịch của cơ thể. Tránh xa các chất kích thích từ khói bụi, hóa chất độc hại và hạn chế sử dụng các loại đồ uống có cồn. Một vài trường hợp những người đang bị mắc các bệnh lý co nguy cơ làm suy giảm hệ miễn dịch thì hãy lập tức tìm đến các cơ sở y tế để điều trị bệnh sớm. Kết hợp với việc bổ sung hàm lượng vitamin giúp thúc đẩy hệ miễn dịch như vitamin A, vitamin E, vitamin D, acid folic và kẽm. Trên đây là bài viết Sống khỏe mạnh khi có một hệ miễn dịch yếu, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
117
Chăm sóc trẻ thiếu Vitamin D
Chăm sóc trẻ thiếu Vitamin D
Tình trạng thiếu hụt vitamin D là nguyên nhân gây còi xương ở trẻ nhỏ và bệnh loãng xương ở người lớn do tổ chức hữu cơ của xương không được khoáng hóa. Những nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nghèo canxi sẽ làm tăng dị hóa vitamin D gây còi xương ở trẻ em. Tìm hiểu về vitamin D Vitamin là một trong những thành phần dinh dưỡng không thể thiếu đối với con người đặc biệt là trẻ nhỏ. Sự kết hợp hài hòa giữa dinh dưỡng và vitamin sẽ giúp cho cơ thể phát triển một cách toàn diện. Vitamin D là một loại vitamin đặc biệt bởi nó thuộc nhóm chất tan trong chất béo và cơ thể chúng ta có thể tự tổng hợp được. Trong nhóm vitamin D bao gồm có vitamin D2 và D3, trong đó D3 được biết đến nhiều hơn và có vai trò quan trọng hơn. Vitamin D là một trong những chất có ảnh hưởng tới quá trình phát triển của hệ xương của trẻ nhỏ và điều hòa nồng độ canxi có trong máu luôn ổn định. Vitamin D   Nguyên nhân khiến trẻ thiếu vitamin D Một số nguyên nhân cơ bản gây ra việc thiếu vitamin D ở trẻ có thể kể đến như: Do tâm lý của nhiều bậc phụ huynh rằng cơ thể trẻ còn non nớt, cần được bảo vệ, do đó họ luôn cho bé ở trong phòng kín, rất ít khi cho trẻ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời buổi sáng. Cho trẻ sinh sống ở khu vực ôn đới, xa xích đạo, thời gian chiếu của ánh sáng mặt trời ít. Trẻ sinh non, cơ thể không được khỏe mạnh như trẻ sinh thường nên quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng kém. Tác dụng của một số loại thuốc hỗ trợ điều trị gan, thận gây cản trở tác dụng hoặc quá trình hấp thụ của vitamin D. Thành phần dinh dưỡng thiếu các chất cung cấp vitamin D cho cơ thể. Cơ thể kém hấp thu vitamin D do gặp các vấn đề về tiêu hóa và không hấp thụ được gluten có trong thực phẩm. Do màu da. Những em bé có da sẫm màu (da đen) thì khả năng tạo vitamin D khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời sẽ giảm so với người có da sáng màu. Trẻ em bị béo phì thì lượng mỡ dư thừa trong cơ thể khá lớn, chính vì thế mà vitamin D sẽ bị tắc ở những mô mỡ này và gây ra hiện tượng thiếu vitamin D. Hậu quả của việc thiếu vitamin D ở trẻ Thiếu vitamin D không chỉ gặp ở trẻ em mà cả người lớn cũng có thể mắc phải, và đây là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh thường gặp mà chúng ta có thể kể ra sau đây: Trẻ thiếu Vitamin D hay bị còi xương: đây là một trong những ảnh hưởng lớn nhất của việc thiếu vitamin D đối với trẻ em. Loãng xương: thường gặp ở người lớn tuổi, làm cho lượng canxi trong xương giảm, làm khả năng đàn hồi của xương thấp và dễ dẫn tới gãy xương... Bệnh tim mạch: do thiếu vitamin làm cho người bệnh thường bị tăng huyết áp và hoạt động của tim mạch ảnh hưởng tới sức khỏe răng miệng. Tăng cholesterol. Các bệnh lý khác: Dị ứng; Gây viêm; Trầm cảm. Dấu hiệu nhận biết trẻ thiếu vitamin D Thiếu vitamin sẽ có những biểu hiện nào? Và có dễ dàng phát hiện hay không là những băn khoăn chung của các bậc phụ huynh. Dưới đây là một số dấu hiệu trẻ thiếu vitamin D: Thiếu vitamin D là một lý do gây ra bệnh còi xương ở trẻ nhỏ, vì vậy trẻ bị còi xương thì chắc chắn trẻ đang bị thiếu vitamin D một cách nghiêm trọng. Tuy nhiên không riêng trẻ bị còi xương mà có rất nhiều bé bị béo phì mà vẫn bị thiếu vitamin D. Cơ thể trẻ thiếu Vitamin D hay bị đổ mồ hôi trộm, ngay cả khi trời lạnh thì vẫn bị đổ mồ hôi. Tóc của trẻ không được khỏe, đen mà còn thường xuyên bị rụng tóc và rụng theo hình vành khăn. Đây là một trong những dấu hiệu dễ dàng nhận biết nhất ở trẻ. Thóp rộng, chân vòng kiềng. Trẻ thường xuyên biếng ăn, táo bón. Chậm vận động. Khi bị nặng hơn thì có thể xương ngực của trẻ bị dị hình. Trẻ chậm bị mọc răng, chậm bò so với trẻ cùng lứa tuổi. Trẻ bị không được thoải mái hay khó chịu, quấy khóc, khi ngủ hay bị giật mình. Các phương pháp khắc phục tình trạng thiếu vitamin D Hướng dẫn chế độ ăn đa dạng: Ăn uống da dạng các loại thực phẩm (đủ 4 nhóm), sử dụng thực phẩm giàu vitamin D như cá, trứng (lòng đỏ trứng), gan, dầu cá…; Lựa chọn các thực phẩm bổ sung vitamin D như sữa, bột dinh dưỡng cho trẻ em, bột mì, bánh qui, margarin, dầu ăn, ngũ cốc… . Ăn các thực phẩm giàu canxi như tôm, cua, cá, sữa, và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, bánh flan, phomat …. Cần chú ý canxi trong sữa dễ hấp thụ hơn canxi từ các nguồn thực phẩm khác; cá nhỏ nguyên xương, tôm tép nguyên vỏ mới chứa nhiều canxi. Bữa ăn cần có đủ dầu, mỡ để tăng hấp thu vitamin D. Ngoài ra chế độ ăn cần có đủ chất đạm, vitamin và khoáng chất (magie, kẽm, tỷ lệ canxi/phốt pho cân đối…). Thúc đấy và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ: Giáo dục, hướng dẫn về nuôi con bằng sữa mẹ cho phụ nữ có thai, trước và ngay sau sinh. Tư vấn và hỗ trợ cho bà mẹ cho bú trong vòng một giờ đầu sau khi sinh, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi và tiếp tục cho bú tới 24 tháng. Tránh ăn dặm (ăn bột) quá sớm. Bữa ăn của trẻ đầy đủ, cân đối, phù hợp với nhu cầu của từng lứa tuổi, đặc biệt lưu ý trẻ sinh non, sinh đôi, suy dinh dưỡng…. Sớm cho trẻ ra ngoài trời ngay từ tháng đầu tiên. Tắm nắng đúng cách. Hướng dẫn cộng đồng tắm nắng đúng cáchTắm nắng cung cấp 90-95% vitamin D cho cơ thể. Khi tắm nắng cần đội mũ, đeo kính râm để tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào đầu. Không sử dụng các loại kem để bôi vào da trong thời gian tắm nắng. Bà mẹ có thai và cho con bú nên tắm nắng (hàng ngày, để lộ chân, tay tiếp xúc ánh nắng mặt trời 15-20 phút vào trước 8 giờ sáng hoặc 4-5 giờ chiều). Giải thích cho bà mẹ hiểu sự cần thiết của hoạt động ngoài trời để nhận được ánh nắng mặt trời. Trẻ cần ở nơi thoáng mát, nhiều ánh sáng. Cho trẻ tắm nắng hàng ngày ngay từ tháng đầu sau đẻ, để lộ chân, tay, lưng, bụng, ngực cho da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Thời gian tắm nắng:15-20 phút vào buổi sáng trước 8 giờ hoặc 4-5 giờ chiều. Dự phòng thiếu vitamin D bằng uống bổ sung vitamin D cho các đối tượng có nguy cơ và điều trị thiếu vitamin D tại cơ sở y tếCán bộ y tế là bác sỹ sẽ chỉ định liều dự phòng thiếu vitamin D cho các đối tượng có nguy cơ thiếu vitamin D và điều trị còi xương cho các đối tượng sau khi chẩn đoán xác định bệnh theo liều lượng hướng dẫn dưới đây. Trẻ từ khi sinh đến 18 tháng tuổi có bú mẹ hoặc không bú mẹ nếu uống ít hơn 1000 ml sữa có bổ sung vitmin D/ngày (hoặc khẩu phần vitamin D không đáp ứng 400 đv/ngày), nên uống bổ sung vitamin D 400 đv ngày liên tục. Trẻ 18-60 tháng tuổi chỉ sử dụng liều trên trong mùa sương mù, ít ánh nắng. Trẻ đẻ non, đẻ nhẹ cân, đẻ sinh đôi, trẻ có làn da thẫm mầu, từ tuần thứ hai sau đẻ: cân nhắc uống bổ sung vitamin D 400-800 đv/ngày liên tục trong 15 tháng đầu. Sau đó tiếp tục phác đồ bình thường. Nếu trẻ không thường xuyên được chăm sóc chu đáo thì nên dùng liều cao cách nhau một thời gian. Từ 6-18 tháng: Cứ mỗi 6 tháng cho uống 1liều 200.000 đv. Trẻ 18-60 tháng dùng liều duy nhất vào đầu mỗi mùa đông trong năm. Trẻ em và vị thành niên không thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, sử dụng
122
Dấu hiệu sớm của ung thư tinh hoàn
Dấu hiệu sớm của ung thư tinh hoàn
Ung thư tinh hoàn hầu như có thể chữa được nếu được phát hiện sớm và ngay cả khi được phát hiện ở giai đoạn sau. Bài này xin được cung cấp cho bạn đọc các thông tin liên quan đến u tế bào mầm tại tinh hoàn. U tế bào mầm ở nam giới có thể phát triển tại các bộ phận trên cơ thể Hầu hết ung thư tinh hoàn phát triển trong các tế bào có chức năng sản xuất tinh trùng được gọi là tế bào mầm hay còn gọi là khối u tế bào mầm. Các khối u tế bào mầm ở nam giới có thể phát triển tại một số bộ phận khác của cơ thể: Tinh hoàn, là vị trí phổ biến nhất. Mặt sau của bụng gần cột sống, được gọi là sau màng bụng. Phần trung tâm của ngực giữa phổi, được gọi là trung thất. Phần dưới của cột sống. Một tuyến nhỏ trong não gọi là tuyến tùng (Rất hiếm). Hàng năm ước tính có 9.560 người Mỹ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tinh hoàn, tức là tỷ lệ khoảng 1/250 đàn ông mắc bệnh. Độ tuổi mắc bệnh trung bình là 33 tuổi. Ung thư tinh hoàn rất hiếm khi mắc phải trước tuổi dậy thì. Bệnh thường được chẩn đoán ở nam giới trẻ tuổi và trung niên nhưng vẫn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, với 6% trường hợp được chẩn đoán ở trẻ nam và thanh thiếu niên và 8% trường hợp được chẩn đoán ở nam giới 55 tuổi trở lên. Số trường hợp ung thư tinh hoàn đã tăng lên trong 40 năm qua mà không rõ lý do. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã chậm lại gần đây. Tỷ lệ tử vong cũng giảm dần từ năm 1990 đến 2014. Ước tính ở Mỹ có khoảng 410 trường hợp tử vong vì căn bệnh này trong năm nay. Những cái chết này là do ung thư di căn từ tinh hoàn sang các bộ phận khác của cơ thể và không thể điều trị hiệu quả bằng hóa trị, xạ trị và/hoặc phẫu thuật hoặc biến chứng do điều trị. Tại nước ta mặc dù chưa có con số thống kê chính xác tỷ lệ mắc ung thư tinh hoàn hàng năm, chỉ biết đây không phải loại bệnh ung thư thường gặp ở nam giới. Chính vì vậy các triệu chứng, các dấu hiệu bệnh sớm cũng dễ bị bỏ qua. Tỷ lệ sống 5 năm cho nam giới bị ung thư tinh hoàn là 95%. Điều này có nghĩa là 95 trong số 100 nam giới được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tinh hoàn sẽ sống ít nhất 5 năm sau khi chẩn đoán. Tỷ lệ này phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn bệnh. Tỷ lệ sống sót cao hơn đối với nam giới được chẩn đoán mắc bệnh ung thư giai đoạn đầu và thấp hơn đối với nam giới mắc bệnh ung thư giai đoạn sau. Đối với những người đàn ông bị ung thư chưa lan ra ngoài tinh hoàn (Giai đoạn 1), tỷ lệ sống sót là 99%. Khoảng 68% nam giới được chẩn đoán ở giai đoạn này. Đối với những người đàn ông bị ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết ở phía sau bụng, được gọi là các hạch bạch huyết sau phúc mạc, tỷ lệ sống sót là khoảng 96%. Nhưng việc này còn phụ thuộc vào kích thước của các hạch bạch huyết. Đối với những người đàn ông bị ung thư đã di căn ra ngoài tinh hoàn đến các khu vực nằm ngoài các hạch bạch huyết sau phúc mạc, như phổi hoặc các cơ quan khác, tỷ lệ sống sót là 74%. Khoảng 11% ung thư tinh hoàn được chẩn đoán ở giai đoạn này. Các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tinh hoàn Ung thư tinh hoàn khá hiếm gặp nhưng vô cùng nguy hiểm   Cần lưu ý là nguyên nhân gây ung thư tinh hoàn chưa được tìm ra. Tuổi tác. Hơn một nửa số nam giới được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tinh hoàn ở độ tuổi từ 20 đến 45. Tuy nhiên, nam giới ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh này, bao gồm cả nam giới ở tuổi thiếu niên và ở độ tuổi 60. Tinh hoàn lạc chỗ. Tinh hoàn lạc chỗ là bệnh mà tinh hoàn không di chuyển, nghĩa là 1 hoặc cả hai tinh hoàn không di chuyển xuống bìu trước khi sinh như bình thường. Đàn ông với triệu chứng này có nguy cơ mắc ung thư tinh hoàn. Nguy cơ này có thể được giảm xuống nếu phẫu thuật để khắc phục tình trạng trước tuổi dậy thì. Bác sĩ khuyên nên phẫu thuật cho bệnh này trong độ tuổi từ 6 tháng đến 15 tháng để giảm nguy cơ vô sinh. Bởi vì bệnh tinh hoàn lạc chỗ thường bị từ khi còn trẻ, nhiều đàn ông không biết mình mắc bệnh. Lịch sử gia đình. Một người đàn ông có người thân, đặc biệt là anh trai, bị ung thư tinh hoàn sẽ có nguy cơ mắc ung thư tinh hoàn. Lịch sử cá nhân. Những người đàn ông bị ung thư ở 1 tinh hoàn có nguy cơ phát triển ung thư ở tinh hoàn còn lại. Ước tính cứ 100 người đàn ông bị ung thư tinh hoàn thì có 2 người sẽ bị ung thư ở tinh hoàn còn lại. Chủng tộc. Mặc dù nam giới thuộc bất kỳ chủng tộc nào cũng có thể mắc ung thư tinh hoàn, nhưng nam giới da trắng được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tinh hoàn nhiều hơn nam giới ở các chủng tộc khác. Ung thư tinh hoàn hiếm khi gặp ở nam giới da đen. Tuy nhiên, đàn ông da đen bị ung thư tinh hoàn dễ bị chết vì ung thư hơn đàn ông da trắng, đặc biệt nếu ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết hoặc các bộ phận khác của cơ thể khi được chẩn đoán. Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Đàn ông nhiễm HIV hoặc mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) do HIV gây ra có nguy cơ mắc hội chứng cao hơn. Thông thường, một tinh hoàn phình to hoặc một cục nhỏ lồi lên hoặc có vùng cứng là những dấu hiệu đầu tiên của ung thư tinh hoàn. Các triệu chứng khác của ung thư tinh hoàn thường không xuất hiện cho đến khi ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể.. Dấu hiệu sớm của ung thư tinh hoàn nam giới không được chủ quan Sự hình thành khối u ác tính ở tinh hoàn sẽ gây ra các triệu chứng tại chỗ, khi khối u lớn và lan rộng đến các vùng xung quanh, triệu chứng sẽ rõ ràng và đa dạng hơn. Nếu nam giới chủ quan, dấu hiệu sớm của ung thư tinh hoàn có thể không được phát hiện, khiến việc điều trị và biến chứng nguy hiểm hơn.  Do đó, các chuyên gia khuyến cáo nam giới nên tự kiểm tra, khám sức khỏe tinh hoàn để phát hiện bệnh nhờ các dấu hiệu sớm như: 1. Thay đổi kích thước bất thường Khối u ung thư thường xuất hiện ở một bên tinh hoàn, ban đầu kích thước khối u rất nhỏ nên có thể không gây ra khác biệt giữa hai bên tinh hoàn. Theo thời gian, khối u lớn lên sẽ khiến bên tinh hoàn bị bệnh phát triển hơn so với bên còn lại. Khi dùng tay thăm khám, bạn có thể phát hiện sự khác biệt này. Ngoài ra, nhiều bệnh nhân ung thư tinh hoàn khi khám thấy rõ một vùng tinh hoàn sưng lên bất thường. 2. Cảm giác đau, khó chịu tại chỗ Người bệnh sẽ có triệu chứng đau ở vùng bẹn bìu hoặc bụng dưới âm ỉ. Ngoài ra, ở vùng bìu sẽ có cảm giác nặng nề hoặc xệ xuống ở tinh hoàn do có khối u. Bên canh đó, bệnh nhân cũng có thể đau bụng do di căn hạch ổ bụng hoặc do ung thư tinh toàn phát triển trong ổ bụng. 3. Nhiễm trùng Bệnh nhân ung thư tinh hoàn có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn, đặc biệt là nhiễm trùng mào tinh hoàn. Khi đó sẽ xảy ra tình trạng tích tụ dịch trong bìu, sưng đau khó chịu. 4. Đau lan tỏa Khi khối u ung thư tinh hoàn kích thước lớn, lan rộng hoặc chèn ép vào dây thần kinh liên quan, bệnh nhân sẽ có cảm giác đau lan rộng hơn đến vùng háng hoặc bụng dưới. 5. Triệu chứng toàn thân Ung thư tinh hoàn giai đoạn đầu, khi khối u còn phát triển trong phạm vi tinh hoàn thì chỉ gây triệu chứng tại cơ quan này. Khi sang giai đoạn tiến triển, bệnh nhân có thể có các triệu chứng khác như: Khó thở, đau ngực, ho có đờm, ho ra máu. Đau lưng dưới. Ngực mềm hoặc phát triển bất thường do khối u ung thư tinh hoàn ảnh hưởng đến sự tổng hợp hormone sinh dục nam, làm tăng trưởng mô ngực. Sưng một hoặc hai bên chân do cục máu đông trong tĩnh mạch lớn. Dấu hiệu sớm của ung thư tinh hoàn nhìn chung khá mờ nhạt, vì thế rất khó phát hiện và điều trị ở giai đoạn hiệu quả nhất này. Các chuyên gia khuyên nam giới nên thường xuyên tự kiểm tra tinh hoàn bằng tay, so sánh kích thước và kiểm tra tình trạng đau. Nếu xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ trên, nên sớm tới cơ sở y tế để được thăm khám. Phát hiện ung thư tinh hoàn càng sớm thì khả năng chữa khỏi bệnh càng cao.  Trên đây là bài viết Dấu hiệu sớm của ung thư tinh hoàn, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
112
Cắt thận bán phần
Cắt thận bán phần
Phẫu thuật cắt thận bán phần đã được áp dụng rộng rãi điều trị các bệnh đường tiết niệu. Phẫu thuật nội soi cắt thận bán phần được chỉ định ngày càng nhiều trong những năm gần đây. Phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm hơn so với mổ mở như: Ít đau, thời gian nằm viện ngắn, vết mổ nhỏ. Phẫu thuật nội soi cắt bán phần thận là gì? Phẫu thuật nội soi cắt thận bán phần bao gồm cắt một phần nhu mô thận ở cực trên hay cực dưới thận hoặc cắt một phần thận hình chêm ở 1/3 giữa thận được thực hiện đường qua phúc mạc hoặc sau phúc mạc. Bệnh phẩm được lấy qua vết mổ nhỏ trên thành bụng ở lỗ trocar. Đây là kỹ thuật an toàn, ít xâm hại, mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân như: quá trình hồi phục nhanh, ít đau và quan trọng nhất là bảo tồn thận, giúp bệnh nhân duy trì một cuộc sống với chất lượng tốt hơn. Có ba kỹ thuật cắt thận bán phần: Cắt hình chêm, cắt hình phẳng, và cắt thận có quy cách. Cắt thận bán phần có quy cách không làm được khi động mạch phân chia trong rốn thận hay có viêm dính. Cắt thận bán phần   Chỉ định Sỏi khu trú ở một cực – làm giãn tổ chức nhu mô thận thành túi thừa Sòi bể thận thận lớn trong thận, bể thận trong xoang hoặc phần lớn trong xoang. Sỏi san hô, sỏi bán san hô mà bể thân trong xoang hoặc phần lớn trong xoang. Chảy máu lớn trong mổ hay sau phẫu thuật, cắt thận bán phần nhu môchảy máu để cầm máu. Ngoài ra, sỏi kèm vói các bệnh khác không phải sỏi thận như: + Lao thận – cắt bỏ hang lao. + Kén – nang thận. + Cắt cầu nối thận móng ngựa. + Chấn thương, vết thương thận khu trú vùng thận. + Ung thư cực thận trên thận đơn độc. Kỹ thuật và một số thay đổi Cắt thận bán phẩn là cắt bò một phần nhu mô và một phần cùa dường bài xuất nưóc tiểu (đài thận) tương ủng VỚI phẩn nhu mô bị cắt bò. Nếu phán dường bài xuất còn nhiều sẽ gây ú dọng nước tiểu, nếu phần nhu mô thận cồn nhiểu sẽ gây hoại tử dẫn tới rò nước tiểu hay tăng huyết áp. Để cắt thận bán phần cần: Hạ thận, bộc lộ thận toàn bộ. Kiểm soát chảy máu bằng cách kẹp cuống thận ngắt quãng (cả cuống thận hoặc riêng động mạch thận, hay nhánh động mạch chi phối cho vùng nhu mô cần cắt bỏ). Sau khi mở thành bụng, vào bộc lộ  quyết định vùng định cắt. Đặt khống chế cuống thận tạm thời, còn gọi là mổ thận trắng • mổ không chảy máu, thời gian khống chế cuống thận tối đa 30 phút. Cũng có thể kéo dài thời gian khống chế cuống thận bằng cách làm lạnh bể mặt thận, hoặc cô lập thận truyền rửa thận bằng dung dịch lạnh còn có thể kéo dài thời gian khống chê’ lâu hơn 30 phút. Có ba phương pháp cát thận bán phán: cắt hình chêm, cắt hình phẳng, và căt thận có quy cách. Trong dó các tác già ưa thích cắt theo hình phẳng hơn vi nhu mô thận độ co kéo, ít hoại tử.Cắt thận có quy cách không làm được khi động mạch phân chia trong rốn thận hay có viêm dính. 1.Cắt vát theo kiểu Cibert Phần nhu mô bỏ đi cắt vát hình chữ V, trong đó đỉnh chữ V quay vế phía rốn thận, tương ứng VỚI phẩn đài thận cắt bỏ. Sau khi cắt bỏ phần nhu mô, khâu cầm máu mặt cắt, kiểm tra hết chảy máu ờ mặt cắt nhu mỏ thận. Khâu niêm mạc bể thận với nhau bằng chỉ cốt gút 3.0. 4.0, khâu hai mặt cắt nhu mô thận, ép chặt vào nhau bàng các mũi chữ u toàn thể, bàng chỉ cát gút 1.0, 2.0. Kéo vỏ xơ thận khâu lại với nhau bằng mũi rời. 2.Cắt ngang theo kiểu Potate – Murphy Sau khi lột vỏ xơ thận vùng nhu mô định cắt, cắt ngang nhu mô thận, khâu cầm máu mặt cắt nhu mô thận. Khâu lại niêm mạc đài bể thận. Khâu lại nhu mô thận, kiểm tra cầm máu. Khâu ép tổ chức cực thận với nhau, khâu lại bao xơ thận. Dẫn lưu bể thận trong những trường hợp có nghi ngờ cầm máu chưa kỹ, có nguy cơ chảy máu thứ phát sau mổ, cùng có thể không dẫn lưu, dây là vấn đề rất tế nhị cần đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. 3.Cắt thận bán phẩn có quy cách Khi cắt thận theo hình phẳng, Lê Ngọc Từ, Nguyên Bửu Tnểu và Vũ Sơn (1995) chủ trương cắt thận bán phần “có qui cách”, tức là cắt phần thận theo vùng tím thiếu máu sau khi đã kẹp nhánh động mạch chi phối cho vùng nhu mô định cắt. Mặc dù phương pháp này có nhiều ưu điềm như: an toàn, hạn chế chảy máu, lấy hết sỏi…, có thể thực hiện được. Nhưng có thể không thực hiện được trong 1/2 số trường hợp trường hợp do viêm dính quanh rốn thận và bể thận hay ĐM thận phân chia trong thận. 4.Cầm máu tạm thời khi cắt thận bán phần Cầm máu tạm thời khi cắt thận bán phần là một vấn đé quan trọng, nhằm mục đích làm cho mất ít máu nhất, cắt được phần thận đúng mong muốn, lấy hết sỏi nhỏ và không ảnh hường nhiều đến chức năng thận. Khống chế động mạch cấp máu cho cực dưới trước khi cắt nhu mô (cắt thận bán phần có quy cách) Khống chế cuống thận: khi cắt thận bán phần phải thường xuyên để phòng chảy máu và phải biết được khả năng chịu dựng thiếu máu của thận trong điêu kiện bình thường. Nhu mô thận có thể chịu đựng được tình trạng thiếu máu trong điều kiện nhiệt độ bình thường dưới 30 phút, nêu tình trạng thiếu máu kéo dài 30 – 60 phút sẽ bắt đầu xuất hiện tổn thương và nếu kéo dài trên 60 phút thì cốc tổn thương sẽ vĩnh viễn không hổi phục (Grasset D. 1980). 5.Diện cắt thận Diện cắt bán phần có thể là diện phẳng hoậc hình nêm.Năm 1957. Murphy và cs dã thực nghiêm trên chó cho thấy cách cắt theo hình nêm hay dẫn đến hoại tử nhu mô thận, dễ dẫn đến chảy máu thứ phát và rò nước tiểu. Các công trình nghiên cứu vể giải phẫu cho thấy thận có những mạch máu tận phân chia theo hình nan hoa, giữa các mạch đó là đường vô mạch ngắn, cắt theo các đường này sẽ ít chảy máu và không gây hoại tử. Thực tế cắt theo diện phẳng thấy là đạt được kết quả tốt, ít có những biến chứng xấu như chảy máu và rò nước tiều. 6.Kỹ thuật cắt thận, cẩm máu diện cắt Nguyên Trình Cơ, Nguyễn Mẻ dếu cho rằng nên cắt bỏ theo giải phẫu, nghĩa là cắt bỏ toàn bộ đài lớn có chứa sỏi, sát tới bể thận vì nêu còn để lại một phần của đài thận thì nước tiểu sẽ ứ đọng như một túi cùng và sẽ tái phát sỏi. Theo Lê Ngọc Từ, Vũ Sơn nếu thắt được nguồn mạch chính vào cấp máu cho cực dưới thì đường cắt nhu mô cũng sẽ cắt qua phần trên cùa đài lớn dưới.Điếu này, hoàn toàn dáp ứng được yêu cẳu của cắt thận bán phần cực dưới dể điểu trị sỏi thận hơn là phải cắt bỏ toàn bộ đài lớn dưới. Do đó, khi tiến hành cắt thận chúng tôi cố gắng lấy hết phần dải thận lớn dưới chứa sỏi, nhằm Iấy hết sỏi và tránh điêu kiện dẫn đến tái phát sỏi. Trong nghiên cứu này. Sau khi cắt thặn lấy bỏ toàn bộ cực dưới bao giờ cũng lộ rõ một phần viên sỏi. Điều này giúp cho việc lấy hết sỏi được thuận lợi, cũng như bơm rửa sạch các đài bể thận. 7.Kỹ thuật lấy sỏi, dẫn lưu thận Sau khi cầm máu xong, tiến hành lấy sỏi, kiểm tra sót sỏi và bơm rửa đài bể thận. Cố gắng lấy sỏi nguyên khối và nhiều sỏi nhỏ kết hợp. Các trường hợp có nhiều sỏi nhỏ rải rác ở khắp các đài thận, gây khó khăn cho việc lấy hết sỏi. Và các trường hợp sót sỏi đều là ở nhóm này đã cắt. Dẫn lưu thận là kỹ thuật nên lựa chọn đối với những trường hợp chảy máu nhiều có nguy cơ chảy máu sau mổ. Kỹ thuật kết hợp này nhằm giúp lưu thông dòng tiểu tốt hơn. tránh ứ đọng dễ gây nhiêm khuẩn và tránh rò nước tiểu. Trong quá trình đóng dài thận, không được dể sót một phần nhỏ nào của đài còn lại mà không được khâu kín để tránh rò nước tiểu. Một việc quan trọng nữa là kiểm tra lấy hết máu cục ở đài bể thận để tránh nhiễm khuẩn gây tái phát sỏi. Cuối cùng khâu ép diện cắt bằng các mũi chữ U. X cẩm máu kỹ bằng chỉ vicryl chậm tiêu. Trên đây là bài viết Cắt thận bán phần, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
116
Rubella bẩm sinh, chuẩn đoán và cách điều trị
Rubella bẩm sinh, chuẩn đoán và cách điều trị
Rubella (tên gọi khác là sởi Đức) là bệnh truyền nhiễm gây dịch do virus rubella (virus ARN giống Rubivirus họ Togaviridae) gây nên. Bệnh lây truyền từ người bệnh, người mang virus sang người lành qua đường hô hấp hoặc từ mẹ sang thai nhi. Rubella biểu hiện bằng việc cơ thể sốt, phát ban, nổi hạch. Bệnh thường diễn biến lành tính nhưng cũng có thể gây một số biến chứng như viêm não – màng não, xuất huyết giảm tiểu cầu... Rubella bẩm sinh là gì? Phụ nữ có thai bị nhiễm bệnh rubella, đặc biệt trong 18 tuần đầu của thai kỳ, có thể gây sẩy thai, thai lưu, sinh non và các tổn thương nặng nề cho thai nhi. Các trường hợp bị Rubella bẩm sinh ở trẻ gồm: Trẻ sinh ra từ mẹ có tiền sử nhiễm rubella khi mang thai và trẻ có xét nghiệm rubella IgM dương tính với rubella; Hội chứng rubella bẩm sinh: Với các dị dạng thai nhi thuộc 2 nhóm: Nhóm A: Đục thủy tinh thể, glaucoma bẩm sinh, bệnh tim bẩm sinh, tổn thương thính giác, bệnh võng mạc sắc tố; Nhóm B: Ban tím, gan lách to, vàng da, não nhỏ, chậm phát triển, viêm não màng não, bệnh xương trong (hình ảnh X-quang). Khi bà mẹ mang thai giai đoạn 3 tháng đầu bị bệnh Rubella thì rất dễ bị sẩy thai hoặc thai chết lưu   Chẩn đoán Rubella bẩm sinh Kiểm tra huyết thanh mẹ Phát hiện vi rút ở người mẹ thông qua nuôi cấy và/hoặc phản ứng chuỗi polymerase sao chép ngược (RT-PCR) của nước ối, mũi, họng (ưu tiên), nước tiểu, dịch não tủy (CSF) hoặc mẫu máu Xét nghiệm kháng thể trẻ sơ sinh (được đo theo chu kỳ) và phát hiện virus bằng xét nghiệm như ở mẹ Phụ nữ mang thai nên được định lượng IgG rubella trong huyết thanh trong giai đoạn sớm của thai kỳ. Xét nghiệm huyết thanh được lặp lại ở những phụ nữ có triệu chứng hoặc dấu hiệu của nhiễm rubella; chẩn đoán được thực hiện bằng xét nghiệm huyết thanh dương tính đối với kháng thể IgM, IgG đặc hiệu, hoặc tăng ≥ gấp 4 lần giữa các lần xét nghiệm cấp tính và giai đoạn hồi phục. Virus có thể được nuôi cấy từ dịch mũi họng nhưng là một xét nghiệm rất khó. Virus có thể được nuôi cấy từ dịch mũi họng nhưng là một xét nghiệm rất khó. phản ứng PCR có thể được sử dụng để xác định các kết quả nuôi cấy hoặc phát hiện RNA virut trực tiếp trong mẫu bệnh phẩm cũng như cho phép xác định kiểu gen và theo dõi dịch tễ học các bệnh nhiễm rubella hoang dại. Trẻ sơ sinh nghi ngờ có hội chứng rubella bẩm sinh nên được xét nghiệm kháng thể và lấy mẫu bệnh phẩm để phát hiện virut. Sự tồn tại của IgG đặc hiệu Rubella ở trẻ sơ sinh sau 6 đến 12 tháng cho thấy nhiễm trùng bẩm sinh. Xét nghiệm kháng thể IgM đặc hiệu Rubella dương tính cũng chứng tỏ nhiễm rubella, tuy nhiên có thể có tình trạng dương tính giả. Các mẫu bệnh phẩm từ mũi họng, nước tiểu, CSF, lớp đệm và kết mạc của trẻ sơ sinh nhiễm rubella bẩm sinh thường có chứa virus; bệnh phẩm từ dịch mũi họng thường chứa nhiều virus và có tính nhạy cảm tốt nhất đối với việc nuôi cấy, và phòng thí nghiệm cần được thông báo rằng mẫu bệnh phẩm nghi ngờ nhiễm rubella. Ở một vài trung tâm, có thể chẩn đoán trước khi sinh bằng xét nghiệm virus trong nước ối, phát hiện IgM đặc hiệu Rubella trong máu thai nhi, hoặc áp dụng kỹ thuật RT-PCR trong mẫu máu thai nhi hoặc qua sinh thiết gai rau. Các xét nghiệm khác bao gồm công thức máu, dịch não tủy, chụp X-quang xương tìm dấu hiệu xương tăng sáng. Khám mắt và đánh giá các tổn thương tim mạch là cần thiết. Điều trị rubella bẩm sinh thế nào? Không thể tiêm chủng vắc xin phòng bệnh rubella ở phụ nữ đang có thai. Vì vậy, nếu chưa tiêm phòng trước khi mang thai thì việc chẩn đoán nhiễm rubella ở thai phụ giữ vai trò rất quan trọng. Trong trường hợp phụ nữ đang mang thai bị mắc rubella: Trong 3 tháng đầu của thai kỳ: Tư vấn đình chỉ thai nghén khi đã có chẩn đoán xác định. Ở giai đoạn 13 - 18 tuần của thai kỳ: nguy cơ bé bị rubella bẩm sinh là rất cao. Cần kết hợp chọc ối để xét nghiệm chẩn đoán xác định. Nếu thấy rubella trong nước ối thì tư vấn đình chỉ thai; ngược lại, trường hợp âm tính thì tiếp tục theo dõi. Ở giai đoạn sau 18 tuần của thai kỳ: Nguy cơ bé bị rubella bẩm sinh là tương đối thấp, nhưng vẫn cần theo dõi thai kỳ chặt chẽ. Ngoài ra, thai phụ cũng cần được điều trị triệu chứng như: Giảm đau, hạ nhiệt; Giữ ấm, tránh gió lạnh trong thời gian phát ban, đề phòng bội nhiễm viêm đường hô hấp; Ăn uống đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng; Tăng cường ăn hoa quả như cam, chanh và các vitamin; Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh cần được điều trị những biến chứng do bệnh gây ra. Phụ nữ có thai bị Rubella có nguy hiểm không? Phụ nữ mang thai mắc rubella rất nguy hiểm. Điều đáng quan tâm nhất là những dị tật của thai nhi trong bụng mẹ: 3 tháng đầu: 70-100% trẻ đẻ ra bị Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não; Hơn 3 tháng sau: Nếu thai được 13-16 tuần thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. Khi thai được 17-20 tuần thì tỷ lệ này là 5%. Và khi thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó là 0%. Đặc biệt, phụ nữ nhiễm rubella trong 18 tuần đầu của thai kỳ cũng rất dễ bị sảy thai, thai chết lưu trong tử cung hoặc sinh non. Nếu tiếp tục kéo dài được thai kỳ thì trẻ cũng khó phát triển khỏe mạnh, thường nhẹ cân, chậm lớn, dễ bị đau ốm bệnh tật và trí tuệ kém. Chính vì vậy, trong thời gian mang thai, phụ nữ cần đến các cơ sở y tế tin cậy hoặc bệnh viện chuyên khoa uy tín để làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết, nhằm đảm bảo an toàn cho cả hai mẹ con. Phòng bệnh rubella bẩm sinh thế nào? Hai biện pháp chính của phòng bệnh rubella là cách ly và tiêm phòng vắc-xin. Tiêm phòng vắc-xin Rubella giảm độc lực, tạo nên miễn dịch ít nhất là 16 năm hoặc có thể cả đời. Vì vậy nên tiêm phòng Rubella rộng rãi cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi. Để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh, phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ (15-40) nếu chưa mắc bệnh bao giờ hoặc chưa tiêm khi còn nhỏ thì cần tiêm bổ sung vắc-xin này, giúp phòng bệnh Rubella và phòng khi mang thai bị bệnh sẽ gây hội chứng Rubella bẩm sinh cho thai nhi. Trên đây là bài viết Rubella bẩm sinh, chuẩn đoán và cách điều trị, hy vọng những thông tin trên sẽ có hữu ích đối với bạn. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết
108